Tóm tắt Người thầy đầu tiên giúp em nắm nhanh câu chuyện về thầy Đuy-sen – người thanh niên nghèo đã mở ngôi trường đầu tiên cho trẻ em làng núi Ku-ku-rêu – và cô học trò mồ côi An-tư-nai trong tác phẩm của nhà văn Cư-rơ-gư-xtan Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp. Đoạn trích được học ở Bài 3 “Cội nguồn yêu thương”, Ngữ văn 7 Kết nối tri thức tập một.
Dưới đây là 8 mẫu tóm tắt: sáu mẫu cho đoạn trích trong SGK (ngắn nhất, ngắn gọn, theo sự việc, chi tiết, theo lời An-tư-nai, kể lại phần (1) và (4) bằng ngôi thứ ba) và hai mẫu tóm tắt toàn bộ truyện để em hiểu vì sao bà viện sĩ An-tư-nai lại day dứt đến vậy.

Sơ đồ tư duy tóm tắt Người thầy đầu tiên
Sơ đồ sắp xếp các sự việc chính của đoạn trích theo trình tự bốn phần, kèm ý nghĩa của câu chuyện.

Tóm tắt Người thầy đầu tiên ngắn nhất – mẫu 1
Người họa sĩ làng Ku-ku-rêu nhận thư của bà viện sĩ An-tư-nai, nhờ ông kể lại câu chuyện về người thầy đầu tiên của bà. Thuở ấy, thầy Đuy-sen một mình dựng trường trong chuồng ngựa bỏ hoang, cõng bế học trò qua suối băng giá và hết lòng chăm lo cho cô bé mồ côi An-tư-nai. Xúc động trước tấm lòng người thầy, họa sĩ quyết vẽ một bức tranh về thầy.
Tóm tắt Người thầy đầu tiên ngắn gọn – mẫu 2
Về quê dự lễ khánh thành trường học mới, người họa sĩ gặp bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Ít hôm sau, bà gửi thư kể về tuổi thơ của mình. Hồi nhỏ, An-tư-nai mồ côi, sống cơ cực với chú thím. Một lần đi nhặt ki-giắc về, cô bé cùng các bạn gặp thầy Đuy-sen, người đang tự tay sửa chuồng ngựa cũ làm trường học. Những lời hỏi han ân cần của thầy khiến cô thấy lòng ấm lại. Mùa đông, thầy bế cõng học trò qua suối, bỏ ngoài tai tiếng cười nhạo của bọn nhà giàu; khi An-tư-nai bị cóng chân giữa dòng nước, thầy vội bế cô lên bờ, ủ ấm và mong gửi được cô lên thành phố học. Cô kính yêu thầy như người anh ruột. Đọc thư, người họa sĩ trăn trở rất lâu và quyết tâm vẽ bức tranh về người thầy ấy.
Tóm tắt Người thầy đầu tiên theo sự việc chính – mẫu 3
- Người họa sĩ được mời về làng Ku-ku-rêu dự lễ khánh thành trường mới, gặp bà viện sĩ An-tư-nai.
- Bà An-tư-nai rời làng vội vã, sau đó gửi thư nhờ họa sĩ kể lại cho mọi người một câu chuyện về bà.
- An-tư-nai nhớ lại thuở nhỏ mồ côi, ở với chú thím, cực nhọc và thiếu tình thương.
- Cô bé cùng các bạn gặp thầy Đuy-sen đang sửa chuồng ngựa cũ thành lớp học; thầy niềm nở, hỏi các em có thích đi học không.
- Mùa đông, thầy cõng, bế các em nhỏ qua suối lạnh, mặc bọn nhà giàu cưỡi ngựa chế giễu.
- Thầy cùng học trò kê đá qua suối; An-tư-nai bị cóng chân, thầy bế cô lên bờ, xoa bóp, ủ ấm, khen cô thông minh.
- An-tư-nai yêu quý, biết ơn thầy, ước thầy là anh ruột của mình.
- Người họa sĩ day dứt, nghĩ đến nhiều ý tưởng cho bức tranh và quyết tâm vẽ về người thầy đầu tiên.
Tóm tắt Người thầy đầu tiên chi tiết – mẫu 4
Mùa thu năm trước, người họa sĩ nhận được bức điện của bà con làng Ku-ku-rêu mời về dự lễ khánh thành ngôi trường mới. Trong số khách mời có bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, người đồng hương nổi tiếng mà cả làng tự hào. Bà được đón tiếp nồng hậu nhưng lại lặng lẽ ra về sớm hơn dự định. Ít ngày sau, họa sĩ nhận được thư của bà: bà gác lại mọi việc để kể một câu chuyện và mong ông tìm cách cho mọi người, nhất là lớp trẻ, cùng được biết.
Câu chuyện trở về những năm 1920. Khi ấy An-tư-nai là cô bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở nhờ nhà chú thím, quần áo rách rưới, quanh năm làm lụng. Một lần cùng các bạn gái đi nhặt ki-giắc ở chân núi về, cô ghé qua ngôi trường mới trên đồi và gặp thầy Đuy-sen. Người thanh niên ấy đang một mình trát vách, sửa cửa, biến chuồng ngựa cũ của một nhà giàu thành lớp học, người lấm lem đất cát. Thầy vui vẻ hỏi han, rủ các em đi học, khen tên An-tư-nai đẹp và nhờ cô dẫn các bạn đến trường. Nụ cười hiền hậu của thầy khiến cô bé thấy ấm lòng.
Sang đông, dòng suối dưới chân đồi lạnh buốt, các em nhỏ không lội qua được. Thầy Đuy-sen lần lượt cõng, bế từng em sang, mặc cho bọn nhà giàu cưỡi ngựa đi qua cười cợt, buông lời lăng mạ. Thầy tìm gỗ bắc cầu không đủ nên cùng học trò kê đá, đắp đất làm lối đi. Một hôm An-tư-nai bị lạnh cóng giữa dòng nước, thầy vội bế cô lên bờ, lót áo choàng cho cô ngồi, xoa đôi chân tím tái rồi một mình làm nốt công việc. Thầy khen cô thông minh và ước có ngày gửi được cô lên thành phố học. An-tư-nai thương mến thầy vô cùng, thầm ước thầy là anh ruột của mình; cả đám học trò đều yêu thầy vì tấm lòng nhân hậu và những ước mơ thầy dành cho các em.
Đọc thư, người họa sĩ trăn trở mãi. Ông nghĩ đến việc vẽ hai cây phong thầy trò đã trồng, vẽ cảnh thầy bế trẻ qua suối giữa những kẻ giễu cợt, hay cảnh thầy tiễn An-tư-nai lên tỉnh học. Dù chưa tìm được bố cục ưng ý, ông vẫn tự nhủ nhất định phải vẽ bức tranh về người thầy đầu tiên.
Tóm tắt Người thầy đầu tiên theo lời An-tư-nai – mẫu 5
Tôi là An-tư-nai. Thuở bé tôi mồ côi, sống nhờ nhà chú thím, ngày ngày làm lụng và chịu những lời mắng nhiếc. Mùa thu năm ấy, trên đường nhặt ki-giắc về, tôi và mấy đứa bạn gặp thầy Đuy-sen đang sửa chuồng ngựa cũ trên đồi thành trường học. Thầy hỏi chúng tôi có thích đi học không, khen tên tôi hay và dặn tôi dẫn các bạn đến lớp. Lần đầu tiên có người đối xử với tôi dịu dàng như thế.
Mùa đông, con suối dưới chân đồi lạnh buốt. Thầy cõng đứa này, bế đứa kia qua suối, chẳng để tâm đến lũ nhà giàu cưỡi ngựa đi ngang chế nhạo. Có lần tôi cùng thầy kê đá qua dòng nước, chân tôi cứng đờ vì lạnh; thầy bế tôi lên bờ, lấy áo choàng lót cho tôi ngồi, xoa chân và hà hơi vào tay tôi. Thầy bảo tôi thông minh và ước được gửi tôi lên thành phố học. Khi ấy tôi chỉ mong thầy là anh ruột của mình. Bao năm sau, tôi mới hiểu mình nợ thầy cả cuộc đời.
Kể lại phần (1) và phần (4) bằng ngôi thứ ba – mẫu 6
Mẫu này bám sát yêu cầu Viết kết nối với đọc của bài học (kể lại nội dung phần (1) hoặc phần (4) bằng lời người kể ngôi thứ ba).
Phần (1): Mùa thu năm trước, người họa sĩ nhận được bức điện mời về làng Ku-ku-rêu dự lễ khánh thành ngôi trường mới. Ông về sớm vài ngày để ngắm cảnh và vẽ kí họa. Bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va cũng về dự, được dân làng đón tiếp nồng nhiệt, nhưng rồi bà vội vã lên tàu đi Mát-xcơ-va. Mấy hôm sau, họa sĩ nhận được thư của bà nhờ kể lại một câu chuyện cho mọi người cùng biết. Lá thư khiến ông trăn trở nhiều ngày, và ông quyết định thay bà kể lại toàn bộ câu chuyện.
Phần (4): Sau khi đọc thư, người họa sĩ day dứt không yên. Ông biết mình phải vẽ về thầy Đuy-sen nhưng chưa biết vẽ thế nào. Có lúc ông định vẽ hai cây phong trên đồi cùng một em bé chân trần ngồi trên cành cây nhìn ra chân trời; có lúc lại muốn vẽ cảnh thầy bế học trò qua suối giữa những kẻ nhà giàu đang cười nhạo, hoặc khoảnh khắc thầy tiễn An-tư-nai lên tỉnh học. Dù còn nhiều băn khoăn, ông vẫn quyết tâm vẽ, để tiếng gọi của người thầy ngày ấy còn vang mãi trong lòng mọi người.
Tóm tắt toàn bộ truyện Người thầy đầu tiên ngắn gọn – mẫu 7
Năm 1924, anh thanh niên Đuy-sen về làng Ku-ku-rêu, sửa chuồng ngựa cũ trên đồi thành trường học dù dân làng thờ ơ. Thầy dạy trẻ con những gì mình biết, cõng các em qua suối mùa đông và đặc biệt thương cô bé mồ côi An-tư-nai. Mùa xuân, thầy trò trồng hai cây phong trên đồi. Khi người thím ép An-tư-nai làm vợ lẽ, thầy liều mình bảo vệ, bị đánh bị thương, rồi cùng dân cảnh cứu cô về và gửi cô lên Tát-xken học. An-tư-nai học tiếp ở Mát-xcơ-va, trở thành viện sĩ; còn thầy ra trận, về sau sống lặng lẽ, làm người đưa thư. Trong lễ khánh thành trường mới, thấy thầy bị lãng quên, bà day dứt và viết thư nhờ người họa sĩ kể lại câu chuyện.
Tóm tắt toàn bộ truyện Người thầy đầu tiên chi tiết – mẫu 8
Truyện mở đầu bằng lời người họa sĩ quê ở làng Ku-ku-rêu. Thuở nhỏ, ông thường cùng lũ bạn trèo lên hai cây phong trên quả đồi mà dân làng gọi là “trường Đuy-sen”, nhưng không hiểu vì sao có cái tên ấy. Nhiều năm sau, ông về dự lễ khánh thành trường mới cùng bà viện sĩ An-tư-nai. Giữa bữa tiệc, ông lão đưa thư Đuy-sen mang điện chúc mừng đến rồi lặng lẽ đi tiếp; mọi người nhắc đến ông như một chuyện cười. Bà An-tư-nai bỏ về sớm, sau đó gửi thư kể lại toàn bộ câu chuyện.
Năm 1924, Đuy-sen – một đoàn viên thanh niên vừa rời quân ngũ, biết chữ chẳng nhiều – về làng mở trường. Dân làng thờ ơ, thầy một mình sửa chuồng ngựa cũ của một nhà giàu thành lớp học, trải rơm làm chỗ ngồi. An-tư-nai, mười bốn tuổi, mồ côi, sống với chú thím khắc nghiệt; nhờ thầy đến tận nhà thuyết phục, cô được đi học. Thầy dạy các em đọc, viết, kể cho các em nghe về thế giới rộng lớn ngoài làng. Mùa đông, thầy cõng bế học trò qua suối, mặc lời chế giễu. Mùa xuân, thầy và An-tư-nai trồng hai cây phong non trên đồi, gửi vào đó ước mơ về một tương lai tươi sáng.
Rồi người thím gả bán An-tư-nai làm vợ lẽ cho một gã đàn ông. Hắn cùng đồng bọn kéo đến trường bắt cô đi; thầy Đuy-sen chống cự đến cùng, bị đánh trọng thương. Thầy báo chính quyền, cùng dân cảnh đến giải cứu cô; kẻ bắt cóc bị bắt giữ. Thầy gửi An-tư-nai lên Tát-xken học ở trường nội trú; lúc chuyến tàu lăn bánh, thầy gọi to tên cô như còn điều gì chưa kịp nói. An-tư-nai học tiếp, lên Mát-xcơ-va, dần trở thành nhà khoa học nổi tiếng. Chiến tranh nổ ra, thầy ra mặt trận, thầy trò bặt tin nhau. Sau này bà lập gia đình, trở thành viện sĩ; còn thầy về làng sống độc thân, làm nghề đưa thư, chẳng mấy ai nhớ đến công lao năm xưa. Tự trách mình, bà viết thư nhờ người họa sĩ kể lại câu chuyện, mong mọi người biết đến và ghi nhớ người thầy đầu tiên của làng. Người họa sĩ trăn trở tìm cách vẽ bức tranh về thầy.
Kết luận
Dù tóm tắt ngắn hay dài, em cần giữ đúng trình tự bốn phần của đoạn trích và những chi tiết cốt lõi về thầy Đuy-sen: dựng trường trong chuồng ngựa cũ, cõng học trò qua suối mùa đông, chăm sóc và vun đắp ước mơ cho An-tư-nai. Tóm tắt toàn bộ truyện giúp em hiểu vì sao bà viện sĩ gọi lá thư của mình là một lời tự thú muộn màng.
Xem thêm: