Soạn bài Văn học và tác dụng chiều sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người gợi ý trả lời phần chuẩn bị, mười câu hỏi đọc hiểu bên lề và sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 137 – 141, Bài 5 (Văn nghị luận), sách Ngữ văn 12 Cánh diều tập một. Đây là văn bản đọc thứ nhất của bài học, một bài nghị luận của nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến bàn về sức mạnh âm thầm mà bền lâu của văn chương đối với việc hình thành con người.
Tìm hiểu chung về văn bản Văn học và tác dụng chiều sâu
Em nên nắm những thông tin cơ bản dưới đây trước khi đi vào câu hỏi.

- Tác giả: nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (1930 – 2011), người Hà Tĩnh, đồng thời là nhà nghiên cứu lí luận văn học và dịch giả; từng đứng đầu Trường Viết văn Nguyễn Du. Ông có nhiều công trình về văn học Nga – Xô viết và về văn hóa.
- Xuất xứ: trích từ cuốn Triết lí văn hóa và triết luận văn chương (NXB Giáo dục, 2006); SGK có lược bớt và đánh số ba phần.
- Thể loại: nghị luận về một vấn đề văn học – văn hóa.
- Luận đề: văn học nghệ thuật có tác dụng sâu xa, bền vững trong việc xây dựng nhân cách văn hóa của con người.
- Bố cục:
- Phần 1: vị thế của văn học (sách) trước sức ép của truyền hình, so sánh đọc sách với xem truyền hình và ba kiến nghị.
- Phần 2: văn chương giúp mỗi người tự nhận ra mình, chuẩn bị tâm hồn cho đạo đức, dẫn dắt hành trình tinh thần, góp phần hình thành nhân cách.
- Phần 3: những phát hiện nghệ thuật và chức năng giáo dục năng lực cảm nhận sự thật, nỗi đau nhân tình, cái đẹp.
- Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, đi từ thực trạng đến bản chất; dẫn chứng từ trải nghiệm riêng và lời các danh nhân; giọng văn vừa điềm tĩnh vừa giàu cảm xúc.
Soạn bài Văn học và tác dụng chiều sâu – Chuẩn bị (trang 137)
Phần chuẩn bị nhắc em xem lại Kiến thức ngữ văn về văn nghị luận và tìm hiểu trước về tác giả.
Câu 1: Những điểm cần chú ý khi đọc văn bản nghị luận (trang 137)
Mục đích của người viết là gì? Nhan đề liên quan thế nào đến nội dung nghị luận? Luận đề là gì, nằm ở đâu, được triển khai bằng luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng nào? Các biện pháp tăng tính khẳng định, phủ định, cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm thể hiện ra sao?
Trả lời:
- Mục đích: thuyết phục người đọc tin rằng văn học có vai trò không thể thay thế trong việc làm nên nhân cách con người, kể cả khi truyền hình lấn lướt.
- Nhan đề: nêu thẳng đối tượng (văn học) và khía cạnh được bàn (tác dụng chiều sâu với nhân cách văn hóa).
- Luận đề: được báo trước ngay câu đầu, khi tác giả cho biết mình sẽ đề cập tác dụng chiều sâu của văn học, sau khi nêu vài ý về chỗ đứng của nó; được làm rõ dần ở phần 2 và phần 3.
- Cách triển khai và biện pháp: em sẽ tìm hiểu kĩ trong các câu hỏi sau khi đọc (câu 3, 4, 5).
Câu 2: Đọc trước toàn bộ văn bản, tìm hiểu thêm về tác giả Hoàng Ngọc Hiến (trang 137)
Trả lời:
Hoàng Ngọc Hiến sinh năm 1930, mất năm 2011, người Hà Tĩnh. Ông được đào tạo ở Liên Xô, về nước làm công tác giảng dạy, nghiên cứu lí luận văn học, sau đó gắn bó nhiều năm với Trường Viết văn Nguyễn Du (Hà Nội), nơi ông làm hiệu trưởng. Ông là một trong những nhà phê bình có tiếng nói riêng, mạnh dạn, từng đề xuất những khái niệm gây nhiều tranh luận trong đời sống văn học. Các tác phẩm tiêu biểu: Văn học gần và xa, Triết lí văn hóa và triết luận văn chương.
Soạn bài Văn học và tác dụng chiều sâu – Câu hỏi trong khi đọc (trang 138 – 141)
Mười câu hỏi bên lề giúp em lần theo mạch lập luận qua ba phần của văn bản.
Câu 1: Vấn đề chính mà tác giả nêu lên ở phần mở đầu là gì? (trang 138)
Trả lời:
Ở phần mở đầu, tác giả nêu vấn đề chỗ đứng của văn học đang bị lung lay, có chiều giảm sút trong đời sống văn hóa hiện đại, vì văn học, vốn tồn tại chủ yếu dưới dạng sách, phải đọ sức với một đối thủ ngày càng mạnh là truyền hình. Đây là bước đặt nền trước khi ông bàn tới tác dụng chiều sâu của văn học.
Câu 2: Chú ý sự khác nhau giữa xem truyền hình và đọc sách (trang 138)
Trả lời:
| Tiêu chí | Xem truyền hình | Đọc sách |
|---|---|---|
| Phương tiện | Hình ảnh nghe nhìn | Hình ảnh ngôn từ, chữ viết |
| Cách tiếp nhận | Hấp dẫn, dễ dàng, gần như không cần cố gắng; đang buồn ngủ vẫn xem được | Phải tập trung trí tuệ, nhiều khi đọc lại và suy ngẫm mới hiểu |
| Dấu ấn để lại | Mau quên: tác giả xem phim Tây Sương kí thấy vui nhưng xem xong chẳng nhớ gì | Bền và sâu: câu Kiều thuộc từ hồi còn đi học, đến giờ vẫn vang lên trong lòng |
Câu 3: Tác dụng của sách như thế nào? (trang 138)
Trả lời:
Theo tác giả, đọc sách là con đường cơ bản giúp trí tuệ được rèn giũa, lớn lên, vì nó buộc người đọc phải động não. Ông khẳng định: “Không phải hình ảnh nghe nhìn mà chữ và ngôn từ mới tạo ra cái cốt vững chãi cho trí tuệ.” Hơn nữa, có những vùng sâu kín trong tim óc con người mà chỉ thứ ngôn từ cao cấp là thơ mới chạm tới được, như ý của nhà thơ Mai-a-cốp-xki.
Câu 4: Các kiến nghị của tác giả liên quan đến đối tượng nào? (trang 139)
Trả lời:
- Kiến nghị 1: hướng tới thiếu nhi và cha mẹ: tạo thói quen đọc sách từ nhỏ, giúp phụ huynh thấy tác hại của việc con suốt ngày dán mắt vào màn hình.
- Kiến nghị 2: hướng tới những người làm sách (nhà xuất bản, người viết): chăm chút hình thức trình bày và cách diễn đạt để sách đủ sức cạnh tranh.
- Kiến nghị 3: hướng tới những người làm truyền hình: dùng chính truyền hình để giới thiệu sách, như chuyên mục Mỗi ngày một cuốn sách trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam.
Câu 5: Chú ý những phân tích của tác giả về tác dụng to lớn của văn học (trang 139)
Trả lời:
Tác giả xuất phát từ một nhận xét: “Con người không phải lúc nào cũng làm chủ được bản thân mình.” Hiểu mình vốn khó, và khoa học tuy soi sáng tự nhiên, xã hội nhưng không với tới mọi uẩn khúc của tâm hồn: “Trái tim của con người có những lí riêng mà lí trí của khoa học khó nắm bắt.” Văn học lấp đầy khoảng trống ấy: có những trang sách đọc xong khiến ta bàng hoàng thấy rõ bộ mặt thật của chính mình, cả điểm yếu lẫn những khả năng tiềm ẩn chưa từng biết.
Câu 6: Các lí lẽ và bằng chứng mà tác giả nêu lên là những gì? (trang 139)
Trả lời:
- Lí lẽ 1: khoa học khai sáng nhận thức chung, nhưng chiều sâu tâm hồn chỉ có văn chương, nghệ thuật soi tỏ được. Bằng chứng: lời Bi-ê-lin-xki rằng “người cao thượng biết rằng mình có những lúc đê tiện”, cho thấy văn học giúp người ta tự biết mình.
- Lí lẽ 2: văn nghệ tác động gián tiếp vào đời sống đạo đức, nhiều khi mạnh hơn sự uốn nắn trực tiếp. Bằng chứng: nhận định của Se-ne-ca, nhà triết học cổ đại, rằng văn học nghệ thuật không trao sẵn đạo đức mà “chúng chuẩn bị tâm hồn cho sự tiếp thu đạo đức”.
- Lí lẽ 3: các tác phẩm cổ điển luôn chứa đựng chiều sâu tâm lí, khơi dậy ý thức tự soi xét của người đọc, đó là bước chuẩn bị để con người hoàn thiện mình về đạo đức.
Câu 7: Văn học và nghệ thuật có vai trò quan trọng như thế nào? (trang 140)
Trả lời:
- Song song với hoạt động thực tiễn, mỗi người đều trải qua một hành trình nội tâm thầm kín, và chính hành trình ấy quyết định sự đổi thay của nhân cách. Văn nghệ đóng vai người dẫn đường: chỉ hướng đúng và chuẩn bị hành trang (thái độ dũng cảm với cuộc sống, nghiêm khắc với bản thân, lòng tự trọng, tình thương, sự độ lượng…) cho hành trình đó.
- Vì vậy, văn học nghệ thuật có vai trò đặc biệt: “quản lí sự cải hoá, sự hình thành nhân cách bên trong con người, ở mỗi con người”. Người nghệ sĩ có tài, hiểu lòng người, gắn bó với cộng đồng sẽ tác động thẳng vào tâm hồn người đọc, không qua khâu trung gian nào.
Câu 8: Văn học nghệ thuật có khả năng giáo dục những năng lực nào khác? (trang 140)
Trả lời:
Bên cạnh việc khẳng định sự thật và khám phá những điều bí ẩn, huyền diệu trong tâm hồn, số phận con người mà tư duy khoa học chưa với tới, văn học nghệ thuật còn giáo dục ba năng lực:
- Năng lực cảm nhận sự thật.
- Năng lực cảm nhận những nỗi đau nhân tình.
- Năng lực cảm nhận cái đẹp.
Câu 9: Chú ý các lí lẽ mà tác giả sử dụng (trang 141)
Trả lời:
Để chứng minh ba năng lực ấy cần được giáo dục, tác giả chỉ ra nguy cơ chúng bị mai một:
- Sống lâu trong dối trá, mập mờ, con người có thể mất nhạy cảm với sự thật, thậm chí sợ phải đối diện với nó.
- Thói ích kỉ, chỉ lo vun vén cho mình khiến người ta dần thờ ơ trước khổ đau của người xung quanh.
- Lối sống thực dụng ngày càng lan rộng làm khả năng rung động trước cái đẹp nghèo đi.
Các lí lẽ đi theo cùng một mô hình: thói quen xấu trong đời sống dẫn đến sự cùn mòn của một năng lực tinh thần. Nhờ đó, vai trò giáo dục của văn học hiện ra như một đòi hỏi cấp thiết.
Câu 10: Phần kết khẳng định điều gì? (trang 141)
Trả lời:
Phần kết khẳng định văn học nghệ thuật phải được đề cao ở vai trò giáo dục, song không nên thu hẹp vai trò đó trong phạm vi đạo đức: “Nhưng chỉ nói đến giáo dục đạo đức thì quá ít.” Bồi đắp sự nhạy cảm với sự thật, với nỗi đau nhân tình và với cái đẹp mới là “sứ mệnh vĩnh cửu, bao trùm của văn học nghệ thuật”.
Soạn bài Văn học và tác dụng chiều sâu – Câu hỏi sau khi đọc (trang 141)
Sáu câu hỏi sau khi đọc giúp em khái quát luận đề, các luận điểm và nghệ thuật lập luận của văn bản.
Câu 1: Nhan đề cho biết mục đích và nội dung chính của văn bản (trang 141)
Trả lời:
- Nội dung chính: nhan đề cho biết đối tượng được bàn là văn học, xét ở khía cạnh tác dụng lâu dài, sâu xa của nó đối với việc hình thành nhân cách, lối sống có văn hóa của con người.
- Mục đích: làm cho người đọc hiểu đúng giá trị của văn học và của việc đọc, từ đó trân trọng, gìn giữ văn hóa đọc giữa thời đại nghe nhìn.
- Chữ “chiều sâu” gợi rằng tác dụng ấy không ồn ào, tức thời mà thấm dần vào bên trong con người.
Câu 2: Nội dung chính của từng phần được đánh số (trang 141)
Trả lời:
- Phần 1: văn học (sách) đứng trước sự cạnh tranh của truyền hình; đọc sách rèn trí tuệ và để lại ấn tượng bền hơn xem truyền hình; ba kiến nghị để nâng vị thế của sách.
- Phần 2: văn chương soi vào nội tâm để mỗi người tự hiểu mình, chuẩn bị tâm hồn cho đạo đức, dẫn đường cho hành trình nội tâm, giữ vai trò như người quản lí sự hình thành nhân cách.
- Phần 3: nghệ thuật ngôn từ có những phát hiện mà khoa học chưa làm được và có sứ mệnh giáo dục năng lực cảm nhận sự thật, nỗi đau nhân tình, cái đẹp.
Câu 3: Luận đề và cách tác giả phân tích ý nghĩa của vấn đề (trang 141)
Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản (luận đề). Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đã phân tích ý nghĩa của vấn đề ấy trong văn bản như thế nào?
Trả lời:
Luận đề: tác dụng chiều sâu của văn học trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người.
Cách phân tích:
- Tác giả không đi thẳng vào luận đề mà mở đầu bằng thực trạng văn học bị truyền hình lấn át. Cách vào đề này cho thấy vấn đề có tính thời sự và làm nổi bật giá trị riêng của sách.
- Tiếp đó, ông đặt văn học bên cạnh khoa học, bên cạnh thực tiễn để chỉ ra chỗ mà chỉ văn học làm được: soi vào tâm hồn, giúp con người tự nhận thức, chuẩn bị và dẫn dắt hành trình tinh thần.
- Cuối cùng, ông mở rộng sang việc bồi dưỡng các năng lực cảm nhận, khẳng định đó là sứ mệnh lâu dài của văn học.
- Mỗi bước đều có lí lẽ, kèm dẫn chứng từ trải nghiệm cá nhân (bộ phim, câu Kiều), từ thực tế (chuyên mục truyền hình, chiến trường) và lời danh nhân (Mai-a-cốp-xki, Bi-ê-lin-xki, Se-ne-ca).
Câu 4: Biện pháp làm tăng tính khẳng định và phủ định (trang 141)
Trả lời:
- Cặp phủ định – khẳng định trong cùng một câu: “Không phải hình ảnh nghe nhìn mà chữ và ngôn từ mới tạo ra cái cốt vững chãi cho trí tuệ.” Vế phủ định gạt bỏ cách hiểu sai, vế khẳng định làm ý chính nổi bật.
- Từ ngữ nhấn mạnh: chỉ có, mới, chính, phải, nhất thiết, hơn lúc nào hết… Ví dụ câu về truyền hình: “Truyền hình có thể lấn át văn hoá đọc nhưng cũng chính truyền hình sẽ hỗ trợ văn hoá đọc”; chữ “chính” xoay chiều vấn đề, biến đối thủ thành đồng minh.
- Câu ngắn, dứt khoát sau câu dài: “Đọc sách thì rất khác.” đặt ngay sau đoạn tả sự dễ dãi của việc xem truyền hình, tạo thế đối lập rõ.
- Phủ định để mở rộng: câu “Nhưng chỉ nói đến giáo dục đạo đức thì quá ít.” không bác bỏ giáo dục đạo đức mà đòi hỏi nhìn chức năng của văn học rộng hơn.
Tác dụng: thể hiện lập trường rõ ràng của người viết, giúp lập luận có sức nặng và dễ thuyết phục.
Câu 5: Nhận xét về cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm (trang 141)
Trả lời:
- Cách lập luận: chặt chẽ, có trình tự từ thực trạng đến bản chất, từ hẹp (đọc sách) đến rộng (sứ mệnh lâu dài của nghệ thuật). Tác giả phối hợp nhiều thao tác: so sánh (truyền hình và sách, khoa học và văn học), phân tích, chứng minh, bác bỏ. Người viết còn biết thừa nhận mặt mạnh của đối tượng mình phản biện (truyền hình có nhiều phim hay, hình ảnh nghe nhìn cũng phát huy trực giác), khiến lập luận khách quan.
- Ngôn ngữ biểu cảm: tác giả xưng “tôi”, kể trải nghiệm riêng khi xem phim và nhớ câu Kiều; dùng các từ nối, tình thái giàu sắc thái như đành rằng, vả chăng, hơn lúc nào hết, thậm chí; dùng hình ảnh cụ thể khi gọi văn học “là ngôn từ mực đen trên giấy trắng” hay nói tới “cái cốt vững chãi cho trí tuệ”. Nhờ đó, bài nghị luận vừa giàu lí lẽ vừa gần gũi, có hơi ấm của một người yêu văn chương.
Câu 6: Viết đoạn văn khoảng 12 – 15 dòng phát triển ý: Văn học giúp em cảm nhận được nỗi đau của những kiếp người (trang 141)
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Có những nỗi đau ta chưa từng trải qua, nhưng nhờ văn học, ta có thể cảm thấy chúng gần như của chính mình. Đọc Lão Hạc của Nam Cao, em không chỉ biết rằng người nông dân trước Cách mạng nghèo khổ, mà còn thấy tim mình thắt lại khi ông lão khóc vì đã lừa bán con chó Vàng, rồi chọn cái chết đau đớn để giữ lại mảnh vườn cho con. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân, em hình dung được cái đói năm 1945 qua bóng người dắt díu nhau như những bóng ma, qua nồi cháo cám đắng chát trong bữa cơm ngày đón dâu. Những con số trong sách sử cho em hiểu, còn trang văn khiến em xót xa, thương cảm. Văn học làm được điều đó vì nó đặt ta vào vị trí của người khác, buộc ta sống cùng họ trong một khoảnh khắc. Từ đó, em biết nhìn những người quanh mình bằng con mắt bao dung hơn: người bán hàng rong dưới mưa, bạn học có hoàn cảnh khó khăn. Như Hoàng Ngọc Hiến từng nhắc, năng lực cảm nhận nỗi đau nhân tình có thể bị mai một trong lối sống bo bo, và văn chương chính là thứ giữ cho trái tim con người khỏi chai sạn.
Kết luận
Văn bản của Hoàng Ngọc Hiến khẳng định văn học không chỉ cung cấp hiểu biết mà còn âm thầm bồi đắp nhân cách: rèn trí tuệ qua việc đọc, giúp con người tự nhận thức, chuẩn bị tâm hồn cho đạo đức và nuôi dưỡng sự nhạy cảm trước sự thật, nỗi đau và cái đẹp. Khi soạn bài, em cần nắm luận đề, ba phần của văn bản, các lí lẽ và dẫn chứng tiêu biểu, cùng cách lập luận và chất biểu cảm trong lời văn của tác giả.
Xem thêm: