Đạo đức là những chuẩn mực về tốt và xấu, đúng và sai mà con người tự nguyện làm theo khi cư xử với nhau và với cộng đồng; nó được giữ bằng lương tâm, dư luận và giáo dục chứ không bằng hình phạt. Với học sinh, “đạo đức nghĩa là gì” còn gắn với tên một môn học ở tiểu học và với dạng đề nghị luận về tư tưởng, đạo lí.
| Nghĩa | Hệ thống chuẩn mực về hành vi tốt, xấu; cũng chỉ phẩm chất tốt đẹp của một người |
| Chữ Hán | 道德: đạo (con đường, lẽ phải), đức (nết tốt có ở trong lòng) |
| Loại từ | Danh từ; trong khẩu ngữ dùng như tính từ (“sống rất đạo đức”) |
| Được giữ bằng | Lương tâm của mỗi người, sự đánh giá của xã hội, nếp nhà và nhà trường |

Hai lớp nghĩa của chữ đạo đức
Lớp nghĩa thứ nhất rộng, mang tính xã hội: đạo đức là bộ quy tắc ngầm mà một cộng đồng coi là đúng. Không ai ghi vào luật rằng phải chào hỏi người lớn, phải trả lại đồ nhặt được, phải giữ lời hứa, nhưng ai làm ngược lại sẽ bị chê. Nói “đạo đức xã hội”, “chuẩn mực đạo đức” là dùng nghĩa này.
Lớp thứ hai hẹp, nói về một con người cụ thể: người có đạo đức là người sống tử tế, biết điều phải trái. Từ đây sinh ra những cụm như đạo đức nghề nghiệp, y đức của thầy thuốc, đạo đức nhà giáo. Trong lời nói hằng ngày, người ta còn bảo “anh ấy đạo đức lắm”, lúc khen thật, lúc lại hơi mỉa người hay rao giảng.
Ít ai để ý rằng trong tiếng Hán, 道德 còn là tên gọi tắt của Đạo đức kinh, sách gắn với Lão Tử. Ở đó chữ “đạo” là cái lẽ của trời đất, nghĩa xa hơn nhiều so với cách ta dùng.
道 là đường, 德 là nết: đọc chữ đạo đức
Chữ đạo (道) vốn là con đường, rồi chuyển sang nghĩa con đường đúng để đi, tức lẽ phải. Chữ đức (德) chỉ cái tốt đã thấm vào người, thành nết. Ghép lại, đạo đức là biết đường phải và giữ được nết tốt khi đi trên con đường ấy.
Họ từ của hai chữ này dày đặc trong tiếng Việt: đạo lí, đạo nghĩa, nhân đạo, đạo hiếu; đức tính, đức độ, phúc đức, thất đức. Khi đạo đức trở thành đối tượng nghiên cứu, nó thành một ngành riêng gọi là đạo đức học, một nhánh của môn học về những câu hỏi lớn của con người.
Riêng chữ 德 đứng một mình còn nhiều nét nghĩa hơn thế, từ phẩm chất tốt tới ơn huệ; chữ đức 德 giải thích từng nét.
Đạo đức, pháp luật, đạo lí, phẩm chất: bốn khái niệm hay bị trộn
| Khái niệm | Là gì | Giữ bằng cách nào | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Đạo đức | Chuẩn mực tốt, xấu trong cách cư xử | Lương tâm, dư luận, tự nguyện | Nhường chỗ cho người già trên xe buýt |
| Pháp luật | Quy tắc bắt buộc do Nhà nước ban hành | Cưỡng chế, có chế tài xử phạt | Dừng xe khi gặp đèn đỏ |
| Đạo lí | Lẽ phải, lối sống được ông cha đúc kết qua nhiều đời | Truyền thống, lời dạy, tục ngữ | Uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo |
| Phẩm chất | Nét tốt hay xấu ổn định trong một con người | Rèn luyện của chính người đó | Chăm chỉ, nhân ái, sống ngay thẳng, thật thà |
Đạo đức và pháp luật giao nhau nhiều nhưng không trùng khít. Ăn cắp vừa trái luật vừa trái đạo đức. Còn nói dối bạn, vô ơn với cha mẹ thì không ai bị phạt tiền, nhưng ai cũng thấy là sai. Có thể hình dung pháp luật là mức tối thiểu buộc phải giữ, đạo đức là phần cao hơn mà mỗi người tự đặt cho mình.
Về từ đồng nghĩa, gần nhất là luân lí, đạo nghĩa. Trái nghĩa có vô đạo đức, thất đức, bất nhân, mức độ nặng dần.
Từ môn Đạo đức đến môn Giáo dục công dân
Học sinh tiểu học gặp chữ này đầu tiên qua tên môn học: môn Đạo đức, dạy những điều rất gần như lễ phép, giữ gìn đồ dùng, quan tâm ông bà. Lên trung học cơ sở, nội dung ấy được học tiếp trong môn Giáo dục công dân, mở rộng sang quyền và nghĩa vụ của người công dân. Tên môn đổi, nhưng cái lõi vẫn là học cách sống tử tế.
Khi đề nghị luận hỏi về đạo đức
Gõ “đạo đức là gì nghị luận”, phần lớn học sinh đang cần viết một bài văn bàn luận, nêu ý kiến thuộc dạng tư tưởng, đạo lí: lòng biết ơn, sự trung thực, lối sống tử tế, đạo đức trên mạng xã hội. Một dàn ý gọn có thể đi như sau:
- Giải thích: đạo đức là gì, khác pháp luật ở đâu (dùng bảng ở trên).
- Bàn luận: vì sao người có đạo đức được tin cậy; xã hội thiếu đạo đức thì luật pháp dày đến mấy cũng khó giữ trật tự.
- Phản đề: phê phán lối sống chỉ “đạo đức ngoài miệng”, nói hay mà làm khác.
- Bài học: đạo đức bắt đầu từ việc nhỏ, như giữ lời hứa, không gian lận khi thi.
Muốn xem cách triển khai thành bài hoàn chỉnh, có thể đọc văn mẫu bàn về tư tưởng, đạo lí lớp 11.
Đạo đức qua mấy câu hỏi của học sinh
Đạo đức nghĩa là gì nếu nói thật ngắn?
Là những điều nên làm và không nên làm trong cách đối xử với người khác, được giữ bằng lương tâm chứ không bằng hình phạt. Người sống theo những điều ấy được gọi là người có đạo đức.
Đạo đức và pháp luật khác nhau ở điểm nào?
Pháp luật do Nhà nước ban hành, bắt buộc và có xử phạt. Đạo đức hình thành trong cộng đồng, con người tự nguyện làm theo, ai vi phạm thì bị lương tâm cắn rứt và bị dư luận chê trách.
Đề nghị luận về đạo đức nên mở bài thế nào?
Có thể đi thẳng vào vấn đề bằng một câu nhận định, hoặc mở bằng một câu tục ngữ quen như “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Sau đó nêu luôn vấn đề mà đề yêu cầu bàn.
Người có đạo đức là người như thế nào?
Là người thật thà, biết thương người, giữ chữ tín và biết nhận lỗi khi sai. Đạo đức không đo bằng lời nói hay mà bằng cách người ấy cư xử khi không ai nhìn thấy.