Dục vọng là lòng ham muốn mãnh liệt, thôi thúc con người phải có cho bằng được một thứ gì đó: tiền của, tiện nghi, danh lợi, quyền thế. Hỏi “dục vọng nghĩa là gì” thì có thể đáp gọn: đó là ham muốn đã vượt khỏi mức cần, khó kìm lại. Từ này mang sắc thái nặng, hay dùng trong văn viết và lời bàn đạo lí.
| Nghĩa ngắn | Lòng ham muốn mạnh, khó cưỡng, thường hướng tới vật chất và danh lợi |
| Gốc từ | Hán Việt 欲望: dục (muốn, ham) + vọng (trông mong) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Trang trọng, văn chương; phần nhiều mang ý chê hoặc cảnh tỉnh |

Dục vọng được từ điển giảng ra sao?
Các từ điển tiếng Việt xếp dục vọng vào loại danh từ và giảng là sự ham muốn, ao ước, nghiêng về của cải vật chất. Nói “ham muốn” thì còn nhẹ. Gọi là dục vọng, người nói đã ngầm cho rằng cái muốn ấy lớn, dai dẳng và có nguy cơ lấn át lí trí.
Vì thế từ này hiếm khi đứng một mình trong câu khen. Nó hay đi với những chữ như kiềm chế, chế ngự, thỏa mãn, buông thả, hoặc được nêu kèm tính chất: dục vọng tầm thường, vô độ, ích kỉ. Vài câu đặt thử:
- Ông ta để dục vọng quyền lực dắt đi, quên hẳn lời hứa với dân làng.
- Đứng trước món hời, cái khó là nhận ra đâu là nhu cầu thật, đâu là dục vọng do quảng cáo thổi lên.
- Nhân vật trong truyện bị dục vọng làm giàu cuốn đi, càng có càng thấy thiếu.
Trong một số văn cảnh, nhất là sách triết học và tôn giáo, chữ dục còn được dùng rộng cho mọi ham muốn bản năng của thân xác. Ở trường học, cách hiểu thông dụng nhất vẫn là lòng ham muốn quá mức về vật chất, danh vọng.
欲望: cái muốn cộng với sự trông ngóng
Theo Thiều Chửu, chữ dục (欲, còn viết 慾) nghĩa là tham muốn, ham muốn, yêu muốn. Chữ này còn một nghĩa ít người để ý: chỉ việc sắp xảy ra, như “thiên dục vũ” là trời sắp mưa. Cùng gốc có tình dục, sắc dục, lục dục, dục hải (biển ham muốn).
Chữ vọng (望) vốn là trông ra xa, rồi thành mong ngóng, ước mong. Họ hàng của nó quen thuộc hơn nhiều: hi vọng, kì vọng, nguyện vọng, thất vọng, tuyệt vọng, và cả khát vọng.
Ghép hai chữ, dục vọng là cái muốn cứ ngóng mãi về phía trước. Hình dung ấy giải thích vì sao người ta thường nói dục vọng “không đáy”: được thứ này rồi, mắt lại nhìn sang thứ khác.
Dục vọng, khát vọng, ước mơ và lòng tham
| Từ | Hướng tới | Sắc thái |
|---|---|---|
| Dục vọng | Của cải, tiện nghi, danh lợi cho riêng mình | Nặng, thường chê; gợi ý phải kiềm chế |
| Khát vọng | Điều lớn lao, tốt đẹp: cống hiến, khám phá, đổi đời | Tích cực, đầy nhiệt huyết |
| Ước mơ | Điều mong có trong tương lai, cả lớn lẫn nhỏ | Trong sáng, nhẹ nhàng |
| Ham muốn | Mọi thứ mình thích có | Trung tính, dùng hằng ngày |
| Lòng tham | Muốn nhiều hơn phần mình, kể cả lấy của người | Chê rõ ràng, đời thường hơn dục vọng |
Khát vọng và dục vọng cùng có chữ vọng, cùng là cái muốn rất mạnh. Khác nhau nằm ở chỗ muốn để làm gì. Một người khao khát chữa được bệnh cho người nghèo là có khát vọng; một người muốn giàu bằng mọi giá, kể cả giẫm lên người khác, là để dục vọng dẫn đường. Bài giải nghĩa chữ khát vọng phân tích kĩ mặt tích cực của cái muốn lớn.
Trái nghĩa với dục vọng không có một từ đơn lẻ nào thật khớp. Gần nhất là các cách nói chỉ thái độ: thanh đạm, tri túc (biết đủ), vô dục, tiết độ. Nhà Phật gom gốc rễ của khổ vào ba chữ tham, sân, si, trong đó tham là anh em ruột của dục vọng; xem thêm ở bài chuyện tham sân si và thói so đo.
Khi văn chương kể chuyện dục vọng
Học sinh lớp 6 gặp một tấm gương soi rất rõ qua truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pu-skin. Mụ vợ đòi cái máng mới, rồi cái nhà, rồi làm nhất phẩm phu nhân, nữ hoàng, cuối cùng muốn làm Long Vương bắt cá vàng hầu hạ. Mỗi lần được thỏa, mụ lại muốn lớn hơn. Kết truyện mụ ngồi trước cái máng lợn sứt mẻ như thuở đầu. Dục vọng ở đây được vẽ thành một cái thang không có bậc cuối; phần soạn bài có ở trang soạn truyện ông lão và con cá vàng.
Lên lớp 12, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ đặt câu hỏi khó hơn. Linh hồn ông Trương Ba thanh cao phải sống nhờ thân xác anh hàng thịt, và dần dần những ham muốn thô của thân xác ấy kéo ông đi: thèm ăn, nóng nảy, vụng về với người thân. Vở kịch không bảo rằng mọi ham muốn đều xấu. Nó cho thấy con người khổ ra sao khi bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo, và khi để cái muốn tầm thường điều khiển mình.
Bàn về dục vọng trong bài nghị luận
Đề kiểu “Suy nghĩ về lòng tham” hay “Con người cần biết đủ” có thể triển khai theo ba ý:
- Giải thích: dục vọng là ham muốn quá mức về vật chất, danh lợi; muốn chính đáng thì không đáng trách, cái đáng lo là muốn vượt khỏi sức mình và lẽ phải.
- Tác hại: làm người ta mất tự do vì bị cái muốn sai khiến; dẫn tới gian dối, tranh giành, phá hỏng quan hệ; không bao giờ thấy đủ nên không thấy vui.
- Bài học: phân biệt nhu cầu với ham muốn; nuôi khát vọng đúng hướng thay cho dục vọng cá nhân; tập biết đủ qua những việc nhỏ như tiêu tiền, dùng điện thoại.
Dẫn chứng có thể lấy từ truyện cá vàng, từ vở kịch Trương Ba, hoặc từ đời sống: chạy theo đồ hiệu, nghiện mua sắm trực tuyến, gian lận để được thăng chức.
Vài điều học trò hay thắc mắc về dục vọng
Dục vọng có phải lúc nào cũng xấu không?
Không hẳn. Ham muốn được ăn no, ở ấm, được người khác tôn trọng là chuyện bình thường của con người. Chữ dục vọng thường mang ý chê vì nó nhấn vào phần quá đà, khi cái muốn lấn át lí trí và lương tâm.
Dục vọng nghĩa là gì trong tiếng Anh?
Từ gần nhất là desire. Khi muốn nhấn vào sự tham lam, tiếng Anh dùng greed; nói về ham muốn danh lợi có thể dùng ambition theo nghĩa xấu hoặc lust for power.
Dục vọng khác khát vọng ở điểm nào?
Cả hai đều là cái muốn rất mạnh. Khát vọng hướng tới điều tốt đẹp, có ích cho mình và người khác; dục vọng hướng tới thỏa mãn riêng, thường về vật chất và danh lợi, nên hay đi kèm lời cảnh tỉnh.
Làm sao để kiềm chế dục vọng?
Một cách đơn giản là dừng lại trước khi có thêm thứ gì và tự hỏi mình cần nó hay chỉ đang muốn nó. Đặt mục tiêu dài hạn rõ ràng cũng giúp những ham muốn tức thời bớt sức kéo.