Nhu nhược là yếu đuối, thiếu cương quyết, đến lúc cần lên tiếng hay hành động thì không dám. Ai tra “nhu nhược nghĩa là gì” sẽ gặp đúng mấy nét ấy. Đây là lời chê nhắm vào tính cách chứ không phải sức khỏe: người khỏe mạnh vẫn có thể nhu nhược, còn người gầy yếu vẫn có thể rất cứng cỏi.
| Nghĩa ngắn | Mềm yếu, thiếu quyết đoán, không dám phản ứng khi cần |
| Gốc từ | Hán Việt 柔弱: nhu (mềm) + nhược (yếu) |
| Loại từ | Tính từ; nói “sự nhu nhược”, “thói nhu nhược” khi dùng như danh từ |
| Sắc thái | Chê, khá nặng; nên tránh dùng để gán cho người khác khi tranh cãi |

Nhu nhược được từ điển định nghĩa thế nào?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi nhu nhược là tính từ, chỉ người yếu đuối, thiếu cương quyết, không dám có những phản ứng khi cần thiết. Wiktionary tiếng Việt giảng gọn hơn: mềm yếu, thiếu cương quyết. Cả hai đều cho ví dụ quen thuộc là “thái độ nhu nhược”.
Chỗ đáng chú ý nằm ở mấy chữ “khi cần thiết”. Không phản ứng với một chuyện vặt thì chưa phải nhu nhược. Nhu nhược là im lặng đúng lúc lẽ ra phải nói: thấy bạn bị bắt nạt mà quay đi, biết mình bị lợi dụng mà vẫn gật đầu, việc của mình mà cứ đẩy cho người khác quyết.
- Cậu ấy nhu nhược tới mức chọn áo đi học cũng phải hỏi ý cả nhóm.
- Bị ép đóng tiền “bảo kê” mà không dám báo thầy cô, đó không phải hiền mà là nhu nhược.
- Một trưởng nhóm nhu nhược sẽ để người to tiếng nhất quyết thay cả nhóm.
柔 mềm, 弱 yếu: hai chữ ghép lại thành một lời chê
Chữ nhu (柔) Thiều Chửu giảng là mềm, mềm yếu, mềm mại. Bản thân chữ này không xấu: nhu hòa, ôn nhu, nhu thuận đều là lời khen, còn cương nhu là biết lúc cứng lúc mềm. Chữ nhược (弱) nghĩa là yếu, suy; gặp lại trong suy nhược, bạc nhược, nhược điểm, nhược tiểu.
Đặt cạnh nhau thì cái mềm bị kéo về phía cái yếu. Người xưa quý chữ nhu khi nó đi với chữ cương; nhu mà thiếu hẳn cương thì thành nhu nhược. Hiểu như vậy sẽ thấy lời chê không nhắm vào sự dịu dàng, mà nhắm vào chỗ thiếu xương sống.
Đứng cùng phía và đứng đối diện với nhu nhược
Nhóm gần nghĩa khá đông, mỗi từ nghiêng về một kiểu yếu:
- Bạc nhược: yếu về tinh thần, không có ý chí vượt qua khó khăn, kể cả khó khăn nhỏ. Thường nói “ý chí bạc nhược”.
- Hèn yếu (hay yếu hèn): kém cả sức lẫn tinh thần, nghe nặng hơn nhu nhược.
- Khiếp nhược: yếu vì sợ, chữ khiếp là khiếp sợ.
- Yếu đuối, ươn hèn: dùng trong lời nói hằng ngày.
Phía đối diện là cứng rắn, cương quyết, quả quyết, kiên quyết, bản lĩnh. Một người quả quyết không nhất thiết to tiếng; họ chỉ không để nỗi sợ quyết thay mình.
Trong đời thường, kiểu người lớn rồi mà chuyện gì cũng chờ mẹ định đoạt hay bị gọi bằng một cái tên mạng, xem thêm ở bài giải nghĩa chữ mama boy. Hai khái niệm chạm nhau ở chỗ thiếu tự quyết, nhưng không trùng nhau hoàn toàn.
Hiền lành, nhẫn nhịn hay nhu nhược: hỏi xem vì đâu mà im
Ba kiểu người này nhìn bề ngoài có thể giống nhau: không cãi, không gây sự. Khác nhau ở lí do bên trong.
| Hiền lành | Nhẫn nhịn | Nhu nhược | |
|---|---|---|---|
| Nghĩa | Tốt bụng, không làm hại ai | Dằn lòng chịu nhịn để tránh xung đột | Yếu, không dám phản ứng khi cần |
| Vì sao im lặng | Vì bản tính ôn hòa | Vì đã cân nhắc, chọn nhịn cho êm chuyện | Vì sợ, vì không đủ quyết tâm |
| Khi bị dồn tới lẽ phải | Vẫn có thể lên tiếng | Có giới hạn; quá giới hạn sẽ dừng nhịn | Tiếp tục lùi |
| Sắc thái | Khen | Trung tính, thường là khen | Chê |
Một câu tự hỏi khá hữu ích: “Nếu muốn, mình có dám làm khác không?” Người nhẫn nhịn trả lời là có, chỉ là chưa muốn. Người nhu nhược thì biết mình nên làm khác mà không dám. Nhầm hai điều này dễ dẫn tới chuyện tự khen mình hiền trong khi thật ra đang trốn.
Nhưng nhịn cũng có giới hạn, đúng như câu con giun xéo lắm cũng quằn: kẻ yếu đến mấy bị chà đạp mãi cũng phải phản ứng.
Thúc Sinh trong Truyện Kiều: thương thật mà không dám
Văn học trung đại có một nhân vật hay được đem ra làm ví dụ cho tính nhu nhược: Thúc Sinh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Chàng là con nhà buôn, đem lòng yêu Kiều, chuộc nàng ra khỏi lầu xanh và cưới làm vợ lẽ, nhưng giấu vợ cả là Hoạn Thư.
Khi Hoạn Thư cho người bắt Kiều về làm con hầu, Thúc Sinh gặp lại người mình thương ngay trong nhà mình. Chàng đau, chàng khóc thầm, nhưng không dám nhận, không dám bênh. Cảnh Kiều phải dâng rượu cho chính hai vợ chồng chàng được kể trong đoạn Thúy Kiều hầu rượu vợ chồng Hoạn Thư, và nhiều bài phân tích đều gọi tên thái độ của Thúc Sinh lúc ấy là nhu nhược, sợ vợ.
Về sau, khi Kiều có quyền xử án và cho mời chàng tới đền ơn, Nguyễn Du chỉ tả một dòng: “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”. Người tốt mà yếu, đứng trước người mình từng không che chở nổi, chỉ còn biết run. Kiều vẫn trả nghĩa đầy đủ; nàng hiểu khổ của mình không do chàng gây ra. Đọc thêm ở các bài văn phân tích cảnh Kiều đền ơn Thúc Sinh để thấy nhân vật này vừa đáng trách vừa đáng thương ra sao.
Hỏi han thêm về tính nhu nhược
Nhu nhược nghĩa là gì trong tiếng Anh?
Wiktionary dịch là weak hoặc feeble. Khi nói về tính cách thiếu quyết đoán, người ta còn dùng spineless (không có xương sống) hay weak-willed (yếu ý chí).
Nhu nhược có phải là hiền không?
Không. Hiền là tốt bụng và ôn hòa; nhu nhược là yếu và sợ. Một người hiền vẫn có thể rất cứng rắn khi thấy điều sai, còn người nhu nhược thì lùi cả khi biết mình đúng.
Người nhu nhược có thay đổi được không?
Được, nhưng thường đi từng bước nhỏ: tự quyết những việc nhỏ của mình, tập nói “không” với lời nhờ vô lí, tập nêu ý kiến trong nhóm. Mỗi lần dám làm một việc trước đây né tránh, phần cứng cỏi lại dày thêm một chút.
Nhu nhược là tính từ hay danh từ?
Theo từ điển, nhu nhược là tính từ (“thái độ nhu nhược”, “sống nhu nhược”). Khi cần dùng như danh từ, ta thêm chữ đứng trước: “sự nhu nhược”, “thói nhu nhược”, “tính nhu nhược”.