Soạn bài Đồng Tháp Mười mùa nước nổi giúp em chuẩn bị bài và trả lời đủ các câu hỏi ở trang 55 – 58, Bài 3 (Kí), sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập một. Đây là bài du kí của Văn Công Hùng, ghi lại một ngày rong ruổi bằng xe máy qua vùng đất ngập nước rộng lớn của Nam Bộ đúng vào mùa lũ về.
Tìm hiểu chung về văn bản Đồng Tháp Mười mùa nước nổi
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài nét về người viết, nguồn gốc văn bản, thể loại và cách chia đoạn.

Tác giả Văn Công Hùng
Nhà thơ Văn Công Hùng ra đời năm 1958, quê ở Thừa Thiên Huế. Học xong Đại học Tổng hợp Huế (1981), ông lên công tác ở Gia Lai – Kon Tum và gắn bó lâu năm với Tây Nguyên. Ông vừa làm thơ, viết văn vừa làm báo, từng giữ chức Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Gia Lai, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII. Các tác phẩm đã in gồm Bến đợi, Hát rong, Ngựa trắng bay về, Mắt cao nguyên…
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: bài in ở Báo Văn nghệ (số 49, tháng 12/2011); SGK in dạng trích, có những chỗ lược bớt được đánh dấu […].
- Thể loại: du kí – một thể của kí, ghi lại những điều người viết tận mắt thấy, tận tai nghe trong chuyến đi tới một vùng đất khác.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”, “chúng tôi”.
- Phương thức biểu đạt: kể là chính, đan xen miêu tả và bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ.
- Bố cục: SGK đánh số 6 đoạn, mỗi đoạn dừng lại ở một nét riêng của vùng đất: (1) lũ và kênh rạch; (2) hành trình vào vùng lõi và tràm chim; (3) hai món đặc sản; (4) sen Tháp Mười; (5) khu di tích Gò Tháp; (6) người dân và thành phố Cao Lãnh.
Soạn bài Đồng Tháp Mười mùa nước nổi – Chuẩn bị (trang 55)
Phần chuẩn bị gợi ý những điều cần để ý khi đọc một bài du kí và yêu cầu em tự tìm hiểu thêm về vùng đất, về tác giả.
Câu 1: Chuyến đi, phương tiện và cảm xúc người viết (trang 55)
Văn bản viết về chuyến đi đến đâu? Đi bằng phương tiện gì? Thái độ và cảm xúc của người viết ra sao?
Trả lời:
- Nơi đến: vùng Đồng Tháp Mười ở Nam Bộ; tác giả đi qua Cao Lãnh, Thanh Bình, Tam Nông, ghé Gò Tháp rồi về thành phố Cao Lãnh.
- Phương tiện: xe máy; tác giả ngồi sau xe của bạn là nhà văn Hữu Nhân, người thạo từng ngõ ngách nơi đây.
- Thái độ, cảm xúc: háo hức, tò mò, muốn thu vào mắt thật nhiều điều trong quỹ thời gian ít ỏi; trân trọng từng món ăn, choáng ngợp trước sen, yêu mến con người và thành phố.
Câu 2: Cảnh sắc, con người và cách ghi chép (trang 55)
Cảnh sắc và con người ở đó như thế nào? Tác giả ghi lại bằng cách miêu tả, kể chuyện, phát biểu cảm nghĩ hay kết hợp các yếu tố đó?
Trả lời:
- Cảnh sắc: mênh mông sông nước, kênh rạch đan nhau như mạng lưới, rừng tràm có chim về đậu kín mỗi chiều, đầm sen hồng trải rộng, gò đất cao hiếm hoi giữa vùng trũng mang dấu tích hàng nghìn năm.
- Con người: sống hồn hậu, vui tươi, lanh lợi, quen thuộc với con nước lên xuống và những câu vọng cổ; người bạn đồng hành nhiệt tình, chịu khó tìm cho khách món ngon đúng mùa.
- Cách ghi chép: tác giả phối hợp cả ba yếu tố. Ông kể lại hành trình theo trình tự đi đâu, ăn gì, gặp gì; tả cụ thể cảnh vật (sen, tràm, gò đất, nước); xen vào đó những câu bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ của mình.
Câu 3: Hiểu biết, thái độ và tình cảm em nhận được (trang 55)
Bài du kí mang lại cho em hiểu biết, thái độ và tình cảm gì?
Trả lời:
- Hiểu biết: em biết lũ không chỉ là thiên tai mà còn là nguồn sống của miền Tây; biết tràm chim là gì, đặc sản theo mùa nước là gì, biết về Gò Tháp gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước.
- Thái độ: thêm trân trọng cách người dân sống hòa thuận với thiên nhiên, biết quý những di tích và sản vật của quê hương.
- Tình cảm: yêu mến miền sông nước Nam Bộ và mong một lần được tận mắt ngắm đầm sen, rừng tràm nơi ấy.
Câu 4: Du lịch sinh thái, du lịch miệt vườn, vùng Đồng Tháp Mười (trang 55)
Tìm hiểu về loại hình du lịch mới ngày nay với tên gọi du lịch sinh thái, du lịch ở vùng miền Tây Nam Bộ được gọi là du lịch miệt vườn; về vùng Đồng Tháp Mười, Nam Bộ.
Trả lời:
- Du lịch sinh thái: hình thức tham quan lấy thiên nhiên và nếp sống của người bản địa làm điểm hấp dẫn chính, đồng thời đề cao ý thức giữ gìn môi trường; khách đến để ngắm, để trải nghiệm mà không làm tổn hại cảnh quan, và người dân địa phương cùng được hưởng lợi.
- Du lịch miệt vườn: cách gọi quen thuộc ở miền Tây Nam Bộ cho kiểu du lịch về các vườn cây trái ven sông. Khách được đi xuồng trên kênh rạch, tự tay hái trái cây, nghỉ trong nhà vườn, ăn món quê và nghe đờn ca tài tử.
- Vùng Đồng Tháp Mười: vùng trũng ngập nước rộng lớn thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây. Hằng năm, khoảng mùa thu, nước lũ tràn về phủ kín ruộng đồng (mùa nước nổi), mang theo phù sa và tôm cá. Nơi đây có Vườn quốc gia Tràm Chim (Tam Nông, Đồng Tháp) với nhiều loài chim nước quý, có các đầm sen, rừng tràm và khu di tích Gò Tháp.
Câu 5: Tìm hiểu thêm về tác giả Văn Công Hùng (trang 55)
Đọc trước văn bản Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Văn Công Hùng.
Trả lời:
- Ông ra đời năm 1958, quê Thừa Thiên Huế.
- Tốt nghiệp đại học năm 1981, ông tình nguyện lên Gia Lai – Kon Tum, làm nhiều việc liên quan đến văn hóa, báo chí, văn nghệ; sau này là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Gia Lai.
- Từ năm 1981, ông làm thơ, viết văn, viết báo; ông đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam. Tác phẩm tiêu biểu: hai tập thơ Bến đợi (1992) và Hát rong (1999), trường ca Ngựa trắng bay về (2002), tập tản văn và phóng sự Mắt cao nguyên (2006).
- Với ông, viết là một nghề nặng nhọc, theo người cầm bút cả đời chứ không phải trò vui; được viết ra điều có ích cho người đọc là mong muốn lớn nhất.
Soạn bài Đồng Tháp Mười mùa nước nổi – Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 55 – 58)
Sáu câu hỏi bên lề văn bản giúp em dừng lại ở từng đoạn để nắm ý chính.
Câu 1: Vai trò của lũ với Đồng Tháp Mười (trang 55)
Lũ quan trọng như thế nào đối với Đồng Tháp Mười?
Trả lời:
Ngay câu mở đầu, tác giả khẳng định: “Lũ chính là nguồn sống của cả cư dân miền sông nước này.” Nước lũ chở phù sa bồi cho ruộng đồng, đưa tôm cá về và góp phần tạo nên nếp sống, văn hóa riêng của đồng bằng. Ngược lại, năm nào lũ không về thì đồng khô nứt, đất phèn bốc lên, nước ở ao trũng không dùng được, cây cỏ héo, đi lại khó khăn, cả đời sống gần như đứng lại. Vì thế người dân không sợ lũ mà mong lũ.
Câu 2: Thế nào là tràm chim? (trang 56)
Thế nào là tràm chim?
Trả lời:
Nhà văn Hữu Nhân giải thích với tác giả rằng tràm chim là tên gọi một khoảnh đất nhô lên giữa mênh mông nước, giống như một khu vườn có nhiều chim, cũng như người ta gọi giồng, gò, cù lao. Tác giả nhận ra cái tên ấy giản dị bất ngờ: tràm mọc san sát thành rừng, còn chim tụ về đông đúc như một khu vườn. Muốn thấy chim phải đợi chiều tối, khi hàng vạn con lớn nhỏ bay về rợp trời.
Câu 3: Món ăn đặc sản của Đồng Tháp Mười (trang 56)
Món ăn nào là đặc sản của Đồng Tháp Mười?
Trả lời:
Hai món đặc sản gắn với mùa nước nổi được nhắc đến là bông điên điển xào tôm (bữa trưa ở Tam Nông) và cá linh kho ngót (bữa chiều ở Cao Lãnh). Tác giả trân trọng gọi chúng là món “quốc hồn quốc tuý” của đồng bằng.
Câu 4: Nét đặc biệt của sen Đồng Tháp Mười (trang 57)
Sen ở Đồng Tháp Mười có gì đặc biệt?
Trả lời:
- Sen mọc tràn khắp, xen giữa những cánh rừng tràm, chiếm trọn những khoảng rộng mênh mông mà không phải chen chúc.
- Sen vừa thanh khiết vừa kiêu hãnh: “sen tinh khiết bung nở giữa bùn, sen ngạo nghễ khoe giữa năn lác”.
- Cây tràm quây quanh như đội lính canh gác, làm nổi bật vẻ đẹp của sen; sắc hồng của sen dưới nắng gió phương Nam khiến người ngắm sững sờ, bâng khuâng. Với tác giả, sen nơi đây giống như một sức mạnh của vẻ đẹp tự nhiên.
Câu 5: Những điểm đặc sắc của khu di tích Gò Tháp (trang 57)
Khu di tích Gò Tháp có những gì đặc sắc?
Trả lời:
- Địa thế: một gò đất rộng chừng năm nghìn mét vuông, nhô cao khoảng năm mét giữa vùng trũng toàn nước, nên là chỗ đất cao hiếm có.
- Dấu tích cổ: nơi khai quật được nền gạch của một ngôi tháp có niên đại khoảng 1.500 năm, đã được xếp hạng di tích quốc gia.
- Lịch sử: thời chống Pháp, đây là nơi Thiên hộ Dương cùng Đốc binh Kiều đặt đại bản doanh, rồi là căn cứ cách mạng thời chống Mỹ.
- Tháp Sen: công trình được dựng ở đây như lời tôn vinh loài sen của Đồng Tháp Mười.
Câu 6: Cảm nhận của tác giả khi đến thành phố Cao Lãnh (trang 58)
Tác giả có cảm nhận gì về Đồng Tháp Mười qua thành phố Cao Lãnh?
Trả lời:
Trở lại Cao Lãnh lúc nước đã dâng sát quán cà phê trước khách sạn, tác giả thấy người dân sống thảnh thơi, hiền hậu mà vẫn năng nổ, thuận theo con nước lên xuống và câu vọng cổ. Dạo phố về đêm, ông nhận ra Cao Lãnh đã thành một đô thị trẻ, hiện đại, kiến trúc có duyên, nhiều cây xanh, mềm mại như một câu hò trên sóng nước. Qua đó, ông cảm nhận Đồng Tháp Mười vừa bình dị, chân chất vừa đang đổi thay, năng động.
Soạn bài Đồng Tháp Mười mùa nước nổi – Câu hỏi sau khi đọc (trang 58)
Năm câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em khái quát lại nội dung, tình cảm của tác giả và rút ra cách viết một bài du kí.
Câu 1: Những gì làm nổi bật màu sắc riêng của Đồng Tháp Mười (trang 58)
Tác giả của bài du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi đã lựa chọn, giới thiệu những gì để làm nổi bật màu sắc riêng của Đồng Tháp Mười?
Trả lời:
| Đoạn | Điều được giới thiệu | Nét riêng |
|---|---|---|
| 1 | Lũ và kênh rạch | Lũ là nguồn sống; đường nào cũng có kênh chạy song song. |
| 2 | Tràm chim | Rừng tràm có chim về kín mỗi chiều; tên gọi Tháp Mười còn nhiều cách giải thích. |
| 3 | Ẩm thực theo mùa nước | Món xào từ bông điên điển với tôm; cá linh kho ngót. |
| 4 | Sen | Mọc giữa rừng tràm, bạt ngàn, đẹp đến choáng ngợp. |
| 5 | Khu di tích Gò Tháp | Gò đất cao giữa vùng trũng, dấu tích tháp cổ, căn cứ của hai cuộc kháng chiến, Tháp Sen. |
| 6 | Người dân, thành phố Cao Lãnh | Hiền hậu, năng động; đô thị trẻ, xanh, có duyên. |
Những điều được chọn đều là thứ chỉ vùng sông nước này mới có, vì vậy người đọc thấy rõ gương mặt riêng của Đồng Tháp Mười chứ không lẫn với nơi khác.
Câu 2: Tình cảm của tác giả với Đồng Tháp Mười (trang 58)
Tình cảm của tác giả khi viết về Đồng Tháp Mười được thể hiện như thế nào? Hãy chỉ ra một số câu văn thể hiện rõ tình cảm ấy.
Trả lời:
Tác giả dành cho vùng đất này tình cảm say mê, trân trọng và yêu mến. Ông háo hức muốn khám phá thật nhiều, nâng niu từng món ăn dân dã, sững sờ trước sen, cảm phục con người và quý mến thành phố. Một số câu văn tiêu biểu:
- “Trong khi chúng tôi thì chỉ có một ngày cưỡi xe, mà lại muốn đi nhiều, thấy nhiều, chiêm ngưỡng nhiều” – điệp từ “nhiều” cho thấy sự háo hức và chút tiếc nuối vì thời gian quá ngắn.
- “Bằng nỗi khát khao và trân trọng của mình, tôi đã miệt mài ăn hai món quốc hồn quốc tuý đồng bằng ấy.” – ăn không chỉ để no mà để thưởng thức hương vị của đất trời.
- Câu “Về đây mới thấy, sen xứng đáng để… ngợp” bộc lộ sự choáng ngợp, ngỡ ngàng.
- “Người dân ở đây vui vẻ sống, hiền lành sống, năng động sống” – cách đảo từ “sống” ra sau thể hiện sự quý mến dành cho người dân.
Câu 3: Bài du kí về một vùng đất mới cần giới thiệu gì? (trang 58)
Từ văn bản trên, theo em, bài du kí về một vùng đất mới cần chú ý giới thiệu những gì?
Trả lời:
- Hành trình: đi đâu, đi bằng gì, cùng ai, vào thời điểm nào.
- Những nét riêng của vùng đất: cảnh quan tự nhiên, khí hậu, mùa đặc trưng.
- Sản vật, món ăn, nếp sinh hoạt, văn hóa của người dân.
- Di tích, địa danh gắn với lịch sử.
- Cảm xúc, suy nghĩ chân thật của người viết trước những điều mắt thấy tai nghe.
Quan trọng là chọn những điều tiêu biểu nhất, ghi lại trung thực điều mình đã trải qua và kết hợp kể, tả, biểu cảm cho sinh động.
Câu 4: Ngôi kể thứ nhất có tác dụng gì? (trang 58)
Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất trong bài du kí có tác dụng gì?
Trả lời:
Người kể xưng “tôi” chính là tác giả, người trực tiếp đi, xem, nếm và cảm nhận. Nhờ ngôi kể này, những điều được ghi lại có độ tin cậy cao vì là trải nghiệm thật; cảm xúc được bộc lộ tự nhiên, gần gũi. Người đọc có cảm giác như đang ngồi sau xe cùng tác giả, cùng nhìn sen, ăn cá linh, dạo phố Cao Lãnh, nên dễ bị cuốn vào chuyến đi.
Câu 5: Nơi em muốn đến nếu được thăm Đồng Tháp Mười (trang 58)
Nếu được đi thăm Đồng Tháp Mười, em sẽ đến nơi nào nêu trong bài du kí? Vì sao?
Trả lời:
Em có thể chọn một trong các nơi tác giả đã đến và nêu lí do riêng. Gợi ý:
Nếu được đến Đồng Tháp Mười, em muốn ghé Tràm Chim nhất. Em mong được đứng giữa rừng tràm lúc hoàng hôn, chờ hàng vạn con chim bay về phủ kín bầu trời, vì cảnh tượng ấy chắc chắn em chưa từng thấy ở thành phố. Nếu còn thời gian, em sẽ tới những đầm sen để xem sen dày đến đâu mà tác giả phải thốt lên rằng sen đẹp đến ngợp, rồi ghé Gò Tháp để hiểu thêm về lịch sử của vùng đất này.
Kết luận
Qua bài du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, Văn Công Hùng đưa người đọc đi một vòng qua lũ, kênh rạch, tràm chim, sen, món ngon theo mùa, di tích Gò Tháp và thành phố Cao Lãnh, đồng thời bày tỏ tình yêu, sự trân trọng với miền sông nước Nam Bộ. Khi soạn bài, em cần nắm sáu đoạn của văn bản, vai trò của ngôi kể thứ nhất và cách tác giả kết hợp kể, tả, biểu cảm.
Xem thêm: