Du kí là một tiểu loại của thể kí, ghi chép lại chuyến đi của chính người viết tới một vùng đất, một xứ sở nào đó: đường đi ra sao, cảnh vật, con người, phong tục nơi ấy thế nào, và người đi đã nghĩ gì, cảm thấy gì. Nhiều sách viết là du ký; hai cách viết cùng chỉ một thể loại. Học sinh gặp khái niệm này lần đầu ở Ngữ văn 6.
| Nghĩa ngắn | Bài kí ghi lại một chuyến đi có thật của người viết |
| Gốc chữ | Hán Việt 遊記: du là đi xa, đi chơi; kí là ghi chép |
| Thuộc | Thể kí (văn xuôi phi hư cấu), cùng nhà với kí sự, bút kí, tùy bút, hồi kí |
| Dấu hiệu nhận biết | Có hành trình, có địa danh thật, người kể xưng “tôi” là người đi |
| Học ở | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, Bài 5 “Những nẻo đường xứ sở” |

Du kí: đi trước, viết sau
Muốn có một bài du kí, trước hết phải có một chuyến đi. Điều nghe hiển nhiên ấy lại chính là ranh giới của thể loại: người viết du kí không ngồi ở nhà mà tưởng tượng ra hòn đảo hay hang động, họ phải đặt chân tới đó, nhìn tận mắt, rồi mới kể lại.
Phần Tri thức ngữ văn của Bài 5 sách Ngữ văn 6 bộ Kết nối tri thức (tập một, trang 109) đặt hai khái niệm cạnh nhau. Theo cách sách giải thích, kí coi trọng sự thật: người viết thuật lại sự việc, vẽ chân dung người và cảnh, đưa thông tin, đồng thời nói ra cảm nghĩ của mình. Du kí là một nhánh của kí, dành riêng cho những cuộc hành trình đến miền đất hay đất nước khác. Wikipedia tiếng Việt, ở mục các tiểu loại của thể kí, mô tả theo cùng hướng: du kí ghi lại điều kì thú của cảnh vật và đời sống mà người đi gặp trên đường, kèm cảm nhận, suy tưởng của chính họ; hình thức có thể là ghi chép, nhật kí hành trình, thư từ.
Gộp hai nguồn lại, có thể hiểu du kí ở ba điểm: viết về chuyến đi có thật, người viết là người trong cuộc, và cái đáng đọc nằm ở chỗ người đi nhìn thấy điều mới lạ mà người ở nhà chưa có dịp thấy. Muốn ôn lại cả thể loại lớn chứa nó, xem bài đặc điểm chung của thể kí.
Du kí đứng ở đâu giữa các thể kí?
Du kí dễ bị lẫn với ba “người anh em” của nó, và với cả những bài chia sẻ kinh nghiệm du lịch trên mạng. Bảng dưới so theo điều mà mỗi thể ưu tiên.
| Thể | Trọng tâm | Người viết đứng ở đâu | Ví dụ học sinh hay gặp |
|---|---|---|---|
| Du kí | Hành trình và vùng đất được đi qua | Người đi, kể bằng ngôi thứ nhất | Hang Én (Ngữ văn 6) |
| Kí sự | Sự việc, sự kiện được ghi lại theo trình tự | Người chứng kiến, giọng tương đối khách quan | Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) |
| Tùy bút | Cảm xúc, suy tưởng của người viết | Cái tôi trữ tình nổi lên trên hết | các bài tùy bút về món ăn, mùa, phố |
| Bài review, cẩm nang du lịch | Thông tin thực dụng: giá vé, lịch trình, chỗ ở | Người hướng dẫn, nói với người sắp đi | bài “đi đâu, ăn gì” trên mạng |
Cột cuối cho thấy chỗ khác quan trọng nhất. Bài cẩm nang viết để người đọc đi theo; bài du kí viết để người đọc thấy được điều mà người viết đã thấy, kể cả khi họ chẳng bao giờ tới đó. Một văn bản có thể pha cả hai, nhưng hễ phần cảm nhận và miêu tả lấn át phần thông tin thì nó nghiêng về du kí. Ranh giới giữa du kí và thể kí sự ghi chép theo trình tự sự việc thì mềm hơn: một chuyến đi dài như chuyến lên kinh của Lê Hữu Trác vừa có đường đi, vừa có chuỗi sự việc trong phủ chúa, nên sách thường xếp nó vào kí sự.
Bốn dấu hiệu nhận ra một bài du kí
- Có một lộ trình. Bài viết đi theo chặng: lên đường, dọc đường, tới nơi, rời đi. Đề đọc hiểu hay hỏi đúng điểm này, chẳng hạn yêu cầu vẽ lại sơ đồ hành trình.
- Có địa danh và chi tiết kiểm chứng được. Tên núi, tên suối, tên bản, độ cao, khoảng cách. Những chi tiết này làm nên chất “thật” của kí.
- Người kể xưng “tôi” hoặc “chúng tôi” và là người trong đoàn. Ta biết cảnh qua mắt họ, nên cảnh luôn đi kèm cảm giác: mệt, sợ, thích, ngỡ ngàng.
- Có cái lạ. Du kí sống nhờ sự khám phá. Nếu bài chỉ kể lại con đường đi học quen thuộc mỗi ngày thì đó là bài văn kể chuyện hoặc tả cảnh, chưa phải du kí.
Ngoài ra, du kí thường đan xen nhiều phương thức: tự sự để kể đường đi, miêu tả để vẽ cảnh, biểu cảm để nói lòng mình, đôi khi thuyết minh để đưa số liệu. Chính sự đan xen này khiến học sinh lúng túng khi bị hỏi “phương thức biểu đạt chính”, câu trả lời an toàn là tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Đọc ba chuyến đi: Hang Én, Cô Tô và con đường vào miền Oku
Hang Én: một chuyến đi bộ xuyên rừng
Văn bản Hang Én trong Ngữ văn 6 kể hành trình của nhóm người đi khám phá một hang động ở Quảng Bình. Đường tới hang không có xe, chỉ có đi bộ qua dốc, qua rừng nguyên sinh, lội nhiều quãng suối. Người viết dành nhiều chữ cho chính con đường, nên khi tới cửa hang, người đọc cũng có cảm giác vừa đi cùng một quãng dài. Trong hang, cái lạ nằm ở đàn én làm tổ hàng vạn con, sống hồn nhiên chưa biết sợ người. Đây là bài học tiêu biểu về du kí: lộ trình rõ, chi tiết thật, cảm xúc của người đi hiện lên ở từng chặng. Phần trả lời từng câu hỏi có trong bài soạn văn bản Hang Én lớp 6.
Cô Tô: khi chuyến đi nhường chỗ cho cái nhìn tài hoa
Cô Tô của Nguyễn Tuân, học cùng bài, cũng bắt đầu từ một chuyến ra đảo. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy trọng tâm không phải là đường đi mà là những bức tranh: buổi sáng sau trận bão, cảnh mặt trời mọc trên biển, cảnh người dân đảo bên giếng nước. Vì thế Cô Tô thường được gọi chung là bài kí, đậm chất trữ tình và tài hoa của người viết. Đặt hai văn bản cạnh nhau là cách tốt để thấy du kí nhấn vào hành trình, còn những dạng kí khác có thể dừng lại lâu ở cảm xúc trước cảnh.
Oku no Hosomichi: du kí viết bằng văn xuôi xen thơ
Văn học Nhật có một dạng nhật kí hành trình xen văn xuôi với thơ haiku. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Oku no Hosomichi của Matsuo Bashō, ghi lại chuyến đi bộ dài lên vùng phía bắc nước Nhật mà ông thực hiện vào cuối thế kỉ XVII. Mỗi chặng đường là một đoạn văn ngắn, khép lại bằng một bài thơ. Ví dụ này cho thấy du kí không bắt buộc phải là văn xuôi thuần, miễn nó vẫn bám vào một chuyến đi có thật.
Năm câu luyện nhận diện du kí
Câu 1: Du kí khác kí ở điểm nào?
Đáp án: Kí là thể loại rộng, ghi lại sự thật nói chung. Du kí là một tiểu loại của kí, chỉ ghi chép về chuyến đi tới một vùng đất, xứ sở. Mọi bài du kí đều là kí, nhưng không phải bài kí nào cũng là du kí.
Câu 2: Trong các văn bản sau, văn bản nào gần với du kí nhất: (a) một bài nhật kí kể chuyện ở nhà ngày mưa, (b) một bài ghi chép chuyến đi Sa Pa ba ngày kèm cảm nghĩ, (c) một bản hướng dẫn đặt vé tàu đi Huế?
Đáp án: Văn bản (b). Nó có chuyến đi thật, có vùng đất mới và có cảm nghĩ của người đi. Văn bản (a) là nhật kí nhưng không có hành trình; văn bản (c) chỉ là thông tin thực dụng, không có phần ghi lại trải nghiệm.
Câu 3: Vì sao người viết Hang Én kể khá kĩ đoạn đường tới hang trước khi tả hang?
Đáp án: Vì đặc trưng của du kí là ghi lại cả hành trình. Đoạn đường gian nan giúp người đọc cảm nhận sự xa xôi, hoang sơ của hang, đồng thời làm cho khoảnh khắc tới nơi trở nên đáng giá hơn.
Câu 4: Câu văn “Chúng tôi phải lội qua con suối thứ mười hai thì mới thấy bóng cửa hang” thể hiện dấu hiệu nào của du kí?
Đáp án: Câu văn có người kể xưng “chúng tôi” là người trong đoàn, có lộ trình được tính bằng từng chặng (con suối thứ mười hai) và có chi tiết cụ thể của chuyến đi thật. Đó là ba dấu hiệu quen thuộc của du kí.
Câu 5: Hãy lập dàn ý ngắn cho một bài du kí kể về chuyến đi gần đây nhất của em.
Đáp án tham khảo: Mở bài giới thiệu nơi đến, thời gian và người đi cùng. Thân bài kể theo chặng: lên đường (tâm trạng, phương tiện), dọc đường (cảnh lạ), tới nơi (cảnh, người, món ăn, phong tục, kèm cảm xúc), một chi tiết bất ngờ nhất. Kết bài nêu điều em mang về sau chuyến đi. Nhớ ghi tên địa danh thật và giữ ngôi “tôi” xuyên suốt.
Du kí, du ký và travelogue
Du kí là thể loại gì?
Du kí là thể loại thuộc loại kí, tức văn xuôi ghi chép người thật, việc thật. Nó chuyên về chuyến đi: người viết kể lại nơi mình đã tới và những gì mắt thấy tai nghe ở đó.
Du ký là gì, có khác du kí không?
Không khác. Du ký và du kí chỉ khác cách viết i/y của cùng chữ 記. Sách giáo khoa hiện hành viết “du kí”, nhiều sách báo cũ và tên tác phẩm lại dùng “du ký”.
Du kí tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh thường gọi là travel writing hoặc travelogue. Từ travelogue ngày nay còn dùng cho các video ghi lại chuyến đi, nên khi dịch sang văn học, travel writing sát nghĩa hơn.
Văn bản du kí có được tưởng tượng thêm không?
Người viết được liên tưởng, so sánh, bày tỏ suy nghĩ, nhưng không được bịa ra địa danh hay sự việc không có thật. Khi phần bịa đặt chiếm chỗ, văn bản đã chuyển sang truyện, dù vẫn kể về một chuyến đi.
Một mẹo nhỏ khi viết: đừng mở bài bằng “Hè vừa rồi em được đi chơi rất vui”. Hãy mở bằng một chi tiết của đường đi, như tiếng còi tàu lúc năm giờ sáng hay mùi muối ở bến phà. Du kí bắt đầu từ chỗ người đọc thấy mình đang đứng cạnh người viết.