Đồng Tháp Mười mùa nước nổi của Văn Công Hùng là văn bản đọc thứ hai của Bài 3 (Kí) trong sách Ngữ văn 6 Cánh diều, tập một, đại diện cho thể du kí. Bài viết dưới đây gom lại những gì em cần nắm trước giờ học và khi ôn tập: nội dung từng đoạn, đôi nét về tác giả, xuất xứ, thể loại, ngôi kể, cách chia đoạn, những điểm đặc sắc về nội dung, nghệ thuật kèm sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Đồng Tháp Mười mùa nước nổi
Văn bản trong SGK là phần trích, có vài chỗ lược bỏ đánh dấu […] và được chia thành 6 đoạn. Tác phẩm còn được bảo hộ bản quyền, nên dưới đây chỉ tóm lược ý từng đoạn kèm vài câu trích ngắn; toàn văn em đọc trong SGK.

Đoạn 1 – Lũ và kênh rạch. Mở đầu, tác giả khẳng định nói tới Đồng Tháp Mười thì không thể bỏ qua lũ, bởi “Lũ chính là nguồn sống của cả cư dân miền sông nước này.” Ông nhớ lần xuống Long An năm trước, giữa mùa mà lũ không về: ruộng nứt nẻ, phèn bốc lên, nước đọng không dùng được, người dân thấp thỏm chờ nước. Bên cạnh đó là hình ảnh những con kênh đào chạy song song với đường sá, nối các cù lao, giồng đất thành đồng bằng rộng lớn.
Đoạn 2 – Vào lõi Đồng Tháp Mười, tìm hiểu tràm chim. Bằng xe máy, nhà văn Hữu Nhân chở tác giả theo những lối nhỏ ít ai biết, qua Cao Lãnh, Thanh Bình, Tam Nông. Tác giả nhắc chuyện tên gọi Tháp Mười còn nhiều cách giải thích và được nghe bạn cắt nghĩa hai chữ tràm chim: rừng tràm cùng đàn chim tụ về đông như vườn, chiều tối mới thấy rõ. Ông tiếc vì chỉ có một ngày mà muốn xem thật nhiều.
Đoạn 3 – Hai món đặc sản theo mùa nước. Cuối mùa, cá linh, bông điên điển đã hiếm, nhưng bạn vẫn chạy khắp nơi tìm cho bằng được. Tác giả được ăn bông điên điển xào tôm ở Tam Nông và cá linh kho ngót ở Cao Lãnh, coi đó là cách thưởng thức hương vị của đất trời phương Nam.
Đoạn 4 – Sen Tháp Mười. Tác giả ví sen nơi đây như một sức mạnh của vẻ đẹp tự nhiên. Sen mọc bạt ngàn giữa rừng tràm, “sen tinh khiết bung nở giữa bùn, sen ngạo nghễ khoe giữa năn lác”, sắc hồng kiêu hãnh dưới nắng gió khiến người ngắm vừa bâng khuâng vừa thấy mình nhỏ bé.
Đoạn 5 – Khu di tích Gò Tháp. Gò Tháp là gò đất cao hiếm hoi giữa vùng trũng, nơi tìm thấy nền tháp cổ khoảng 1.500 năm tuổi, từng là đại bản doanh của Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều và là căn cứ thời chống Mỹ. Tháp Sen được dựng ở đây để tôn vinh loài sen.
Đoạn 6 – Người dân và thành phố Cao Lãnh. Trở lại Cao Lãnh, tác giả cảm mến những con người hiền hậu, năng động, quen sống cùng con nước và câu vọng cổ. Dạo phố đêm, ông thấy một đô thị “vừa trẻ trung vừa hiện đại, rất có gu kiến trúc, vừa mềm vừa xanh”.
Thông tin tác giả Văn Công Hùng
Nhà thơ, nhà báo Văn Công Hùng ra đời năm 1958, quê ở Thừa Thiên Huế. Năm 1981, học xong Đại học Tổng hợp Huế, ông tình nguyện lên công tác ở Gia Lai – Kon Tum. Nhiều năm ở Tây Nguyên, ông làm các công việc về văn hóa, sưu tầm văn hóa dân gian, báo chí và văn nghệ; ông từng là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Gia Lai và Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.
Từ năm 1981, ông bắt đầu làm thơ, viết văn, viết báo. Ông là hội viên của nhiều tổ chức nghề nghiệp: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Sáng tác của ông trải trên nhiều thể loại: thơ, trường ca, tản văn, phóng sự. Một số tác phẩm đã in: các tập thơ Bến đợi (1992), Hát rong (1999), Hoa tường vi trong mưa (2003); trường ca Ngựa trắng bay về (2002); tập tản văn và phóng sự Mắt cao nguyên (2006); cùng các cuốn Gõ chiều vào bàn phím, Cầm nhau mà đi…
Ông nhận một số giải thưởng: giải Nhì cuộc thi thơ của tỉnh Gia Lai (1985), giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (2002), giải A ở lần đầu tiên tỉnh Gia Lai trao giải văn học nghệ thuật (giai đoạn 2000 – 2005).
Văn Công Hùng xem viết là một nghiệp vất vả theo mình suốt đời, không phải trò chơi; chữ nghĩa không nuôi no người viết nhưng đem lại sự bình an, và viết được điều có ích cho người đọc là điều ông mong mỏi. Bài du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi cho thấy một ngòi bút ghi chép tinh tế, giọng văn tự nhiên, giàu cảm xúc. Muốn hiểu thêm về con người và nghề viết của ông, em có thể đọc bài Tính nghề trong viết – Văn Công Hùng.
Thông tin tác phẩm Đồng Tháp Mười mùa nước nổi
Xuất xứ của văn bản
Bài du kí in lần đầu ở Báo Văn nghệ (số 49, tháng 12/2011). SGK Ngữ văn 6 Cánh diều in lại có lược bớt một số đoạn.
Hoàn cảnh sáng tác
Bài viết ghi lại chuyến đi có thật của tác giả tới vùng Đồng Tháp Mười đúng dịp mùa nước nổi, khi ông được bạn là nhà văn Hữu Nhân chở bằng xe máy suốt một ngày qua nhiều huyện, tới khu di tích Gò Tháp rồi về thành phố Cao Lãnh. Những gì tận mắt thấy, tận miệng nếm trong chuyến đi ấy trở thành chất liệu của bài kí.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: du kí – thể kí ghi lại những điều người viết tận mắt thấy khi đi tới một vùng đất khác, kể theo trình tự hành trình.
- Phương thức biểu đạt: kể (tự sự) là chính, kết hợp miêu tả và biểu cảm; có xen thông tin về địa lí, lịch sử, ẩm thực.
Ngôi kể trong bài du kí
Văn bản dùng ngôi thứ nhất: người kể xưng “tôi”, “chúng tôi”, chính là tác giả. Ngôi kể này làm cho những điều được ghi chép đáng tin cậy và cảm xúc được bày tỏ trực tiếp, chân thành.
Bố cục Đồng Tháp Mười mùa nước nổi có mấy phần?
Theo cách đánh số trong SGK, văn bản gồm 6 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến “đầy bản sắc”): vai trò của lũ, kênh rạch chằng chịt.
- Đoạn 2 (tiếp đến “chiêm ngưỡng nhiều”): hành trình vào vùng lõi, tên gọi Tháp Mười và tràm chim.
- Đoạn 3 (tiếp đến “vùng đất phương Nam”): hai món đặc sản mùa nước.
- Đoạn 4 (tiếp đến “mênh mông Đồng Tháp Mười”): vẻ đẹp của sen.
- Đoạn 5 (tiếp đến “tôn vinh sen Đồng Tháp Mười”): khu di tích Gò Tháp.
- Đoạn 6 (còn lại): người dân và thành phố Cao Lãnh.
Nếu gộp lại, có thể chia thành 3 phần: lũ và đường vào Đồng Tháp Mười (đoạn 1 – 2); món ngon và loài hoa tiêu biểu (đoạn 3 – 4); di tích và con người (đoạn 5 – 6).
Giá trị nội dung
Văn bản giới thiệu một cách sinh động và chân thực những nét riêng của Đồng Tháp Mười vào mùa nước nổi: lũ là nguồn sống, kênh rạch dày đặc, tràm chim, sen bạt ngàn, món ăn dân dã theo mùa, di tích ghi dấu lịch sử lâu đời cùng những con người hiền hậu, năng động. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm say mê khám phá, sự trân trọng và tình yêu dành cho miền sông nước Nam Bộ, khơi gợi ở người đọc mong muốn được một lần đặt chân đến đây.
Giá trị nghệ thuật
- Ngôi kể thứ nhất tạo sự chân thực, gần gũi.
- Kể theo trình tự hành trình, chọn lọc chi tiết tiêu biểu cho từng đoạn.
- Kết hợp nhuần nhuyễn kể, tả và biểu cảm; xen thông tin địa lí, lịch sử.
- Ngôn ngữ giàu chất Nam Bộ (giồng, kinh, lung, bàu…), nhiều phép điệp, nhân hóa, so sánh (tràm như lính gác, thành phố như câu hò).
- Giọng văn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, giàu cảm xúc.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề gọi tên đúng thời điểm của chuyến đi: Đồng Tháp Mười vào mùa nước nổi, khi lũ tràn đồng. Đây là mùa đặc trưng nhất của vùng đất này, gắn với cá linh, bông điên điển, với nhịp sống theo con nước. Nhan đề vì thế vừa cho biết nội dung, vừa gợi ra nét riêng không lẫn được của miền Tây sông nước.
Sơ đồ tư duy Đồng Tháp Mười mùa nước nổi
Sơ đồ dưới đây tóm lược sáu ý chính cần nhớ về tác giả và tác phẩm.

Tóm tắt Đồng Tháp Mười mùa nước nổi
Hai đoạn tóm tắt ngắn giúp em nhớ nhanh nội dung bài du kí.
Mẫu 1 – Tóm tắt Đồng Tháp Mười mùa nước nổi ngắn gọn
Vào mùa nước nổi, nhà văn Hữu Nhân đưa tác giả đi khám phá Đồng Tháp Mười trong một ngày. Ông hiểu vì sao người dân coi lũ là nguồn sống, nghe giải thích về tràm chim, nếm hai món đặc sản mùa nước, choáng ngợp trước sen, thăm Gò Tháp và cảm mến người dân, thành phố Cao Lãnh.
Mẫu 2 – Tóm tắt Đồng Tháp Mười mùa nước nổi đầy đủ
Bài du kí mở đầu bằng vai trò của lũ: lũ đem phù sa, tôm cá và nước ngọt; thiếu lũ thì đồng khô, phèn nổi, đời sống đình trệ. Kênh rạch được đào dọc đường, nối các vùng đất thành đồng bằng rộng lớn. Ngồi sau xe Hữu Nhân, tác giả đi sâu vào vùng lõi, biết thêm chuyện tên gọi Tháp Mười và tràm chim. Ông được thưởng thức bông điên điển xào tôm ở Tam Nông, cá linh kho ngót ở Cao Lãnh. Sen mọc bạt ngàn giữa rừng tràm khiến ông ngơ ngác. Ở Gò Tháp, ông biết đến nền tháp cổ, nơi đóng quân của nghĩa quân chống Pháp và căn cứ chống Mỹ. Cuối ngày, về Cao Lãnh, ông quý mến người dân hiền hậu, năng động và một thành phố trẻ, xanh.
Lời kết
Đồng Tháp Mười mùa nước nổi là bài du kí tiêu biểu để em học cách đọc và viết thể loại này: kể theo hành trình, chọn nét riêng của vùng đất, kết hợp kể, tả, biểu cảm qua ngôi thứ nhất. Nắm chắc xuất xứ, sáu đoạn của văn bản và những câu văn bộc lộ tình cảm của tác giả sẽ giúp em soạn bài và làm bài đọc hiểu tốt hơn.
Xem thêm: