Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử theo SGK Ngữ văn 11 Cánh diều, tập hai, Bài 6 Thơ. Ở bộ sách này, bài thơ nằm trong phần Thực hành đọc hiểu (văn bản 1, trang 41–42), sau hai văn bản đọc chính là Đây mùa thu tới và Sông Đáy. Bài soạn trả lời phần Chuẩn bị, ba gợi ý bên lề và sáu câu hỏi cuối văn bản, trong đó câu 6 có đoạn văn mẫu khoảng 8–10 dòng.
Văn VN còn có Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ (ngắn nhất) trả lời câu hỏi theo sách giáo khoa chương trình 2006, bài Đây thôn Vĩ Dạ – nội dung và đọc hiểu từng khổ, và Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ – Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo cho học sinh học bộ Chân trời sáng tạo (bài thơ được học ở lớp 12). Câu hỏi của các bài đó khác với sách Cánh diều 11.
Chuẩn bị – soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ Cánh diều (trang 41)
Phần Chuẩn bị có hai yêu cầu: đọc trước bài thơ, tìm hiểu nhà thơ Hàn Mặc Tử; tìm hiểu cảnh vật, con người xứ Huế và hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Tìm hiểu nhà thơ Hàn Mặc Tử
- Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên khai sinh Nguyễn Trọng Trí, quê Quảng Bình (sinh ở Đồng Hới), sau nhiều năm sống ở Quy Nhơn, gia đình theo đạo Thiên Chúa.
- Làm thơ từ rất sớm, ban đầu viết thơ Đường luật, sau trở thành một hồn thơ khác thường, khó lẫn trong phong trào Thơ mới. Thơ ông đi từ trong trẻo, đằm thắm (tập Gái quê, 1936) đến những vần thơ đầy đau đớn, ám ảnh (tập Thơ điên, sau đổi tên là Đau thương, 1938); ngoài ra có Xuân như ý, Thượng thanh khí, kịch thơ Duyên kì ngộ, Quần tiên hội…
- Khoảng năm 1936, ông mắc bệnh phong – căn bệnh khi ấy bị xã hội xa lánh – và mất năm 1940 tại trại phong Quy Hoà (Quy Nhơn) khi mới 28 tuổi. Nỗi đau thể xác, sự cách li với đời và khát khao sống mãnh liệt là chìa khoá để đọc nhiều bài thơ của ông, trong đó có Đây thôn Vĩ Dạ.
Cảnh vật, con người xứ Huế và hoàn cảnh ra đời bài thơ
- Thôn Vĩ: theo chú thích của sách, thôn Vĩ Dạ (có bản chép là Vĩ Giã, gốc là Vĩ Dã – lau và cánh đồng) nằm ở ven thành phố Huế, bên bờ sông Hương, nổi tiếng với những khu nhà vườn xinh xắn. Cảnh Huế thường được nhớ qua nắng sớm trên vườn cau, khóm trúc, con đò trên sông Hương, đêm trăng, sương mù sớm và vẻ kín đáo, dịu dàng của con người.
- Hoàn cảnh sáng tác: Đây thôn Vĩ Dạ ra đời năm 1938, khi Hàn Mặc Tử đang bệnh nặng ở Quy Nhơn. Nhiều tài liệu kể rằng Hoàng Thị Kim Cúc – người con gái quê Vĩ Dạ mà nhà thơ từng thầm thương – gửi cho ông một tấm bưu ảnh phong cảnh kèm lời thăm hỏi; từ đó, kỉ niệm về Huế và người xưa trở về thành bài thơ. Tên ban đầu là Ở đây thôn Vĩ Dạ, in trong tập Thơ điên (về sau là Đau thương). Sách Cánh diều ghi nguồn bài thơ từ tập Đau thương (NXB Hội Nhà văn, 1995).
Ba gợi ý bên lề khi đọc Đây thôn Vĩ Dạ (trang 41–42)
Ba ô màu vàng cạnh văn bản không đánh số, ở đây đánh số theo thứ tự xuất hiện để tiện theo dõi.
Câu 1 (trang 41): Chú ý hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” ở dòng thơ số 3
Trả lời: So sánh màu lá vườn với ngọc là lấy một thứ quý giá, trong và có ánh để tả cây cỏ. Màu xanh ấy không đứng yên mà được nắng sớm chiếu vào, như phát sáng từ bên trong lá còn đọng sương. Thêm từ cảm thán “mướt quá” đứng trước, dòng thơ thành một tiếng reo: người nhìn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp non tơ, sạch sẽ của khu vườn – vẻ đẹp mà người đang bệnh tật, xa Huế càng thấy quý.
Câu 2 (trang 41): Chú ý tính nghịch lí, khác thường trong quan hệ của “gió” và “mây”
Trả lời: Theo lẽ thường, gió thổi thì mây bay, gió và mây đi cùng chiều. Dòng thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” lại tách đôi chúng: dấu phẩy cắt câu thành hai vế, mỗi vế một hướng. Cái nghịch lí ấy không thuộc về thiên nhiên mà thuộc về cảm giác của người nhìn: mọi thứ đang rời nhau, kể cả những gì vốn gắn bó. Đó là dự cảm chia lìa của một người biết mình đang dần bị tách khỏi cuộc đời.
Câu 3 (trang 42): Từ “ở đây” trong dòng thơ số 11 chỉ không gian nào?
Trả lời: “Ở đây” là không gian của chính chủ thể trữ tình – nơi người đang nằm bệnh, xa thôn Vĩ, chỉ có sương khói làm mờ cả bóng người. Nó vừa là nơi chốn thật (chốn cô quạnh của người bệnh), vừa là không gian tâm tưởng mờ mịt, không nhìn rõ ai và không chắc ai còn nhớ mình. Đặt cạnh nhan đề Đây thôn Vĩ Dạ sẽ thấy hai chữ “đây” chỉ hai thế giới khác nhau: một bên là thôn Vĩ đầy nắng, một bên là chốn mờ sương của người ở xa.
Đọc hiểu – trả lời 6 câu hỏi Đây thôn Vĩ Dạ Cánh diều (trang 42)
Câu 1 (trang 42): Bức tranh thôn Vĩ ở khổ 1 có đặc điểm gì? Được nhìn từ con mắt của ai?
Bức tranh thôn Vĩ ở khổ 1 có đặc điểm gì? Bức tranh đó được nhìn từ con mắt của ai? Qua đó, ta thấy được tâm trạng gì của nhân vật trữ tình?
Trả lời:
- Đặc điểm: bức tranh buổi sớm, rất nhiều ánh sáng và màu xanh. Điệp từ nắng trong “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” dồn ánh sáng lên ngọn cau – thứ nắng đầu tiên, tinh khôi. Khu vườn mượt, xanh như ngọc. Con người chỉ hiện ra một phần: khuôn mặt chữ điền phúc hậu thấp thoáng sau lá trúc. Cảnh đẹp, người hiền, nhưng tất cả đều hơi xa và có gì đó khuất lấp.
- Con mắt nhìn: đó là con mắt của nhân vật trữ tình – người được hỏi “anh” ở dòng đầu, đang nhớ về thôn Vĩ từ một nơi xa. Bức tranh được dựng bằng kí ức và tưởng tượng chứ không phải cảnh đang đứng trước mặt; vì thế mới có chữ “Nhìn” đầy chủ động như người đang cố hình dung lại.
- Tâm trạng: nhớ thương, khao khát trở về và say mê vẻ đẹp thôn Vĩ; đồng thời có một chút ngậm ngùi, mặc cảm. Đại từ phiếm chỉ ai trong “Vườn ai” và lá trúc “che ngang” cho thấy người nhìn tự đặt mình bên ngoài: cảnh và người ấy đẹp nhưng không thuộc về mình.
Câu 2 (trang 42): Bức tranh thiên nhiên ở khổ 2 khác khổ 1 thế nào? Điều đó cho biết gì về tâm trạng?
Bức tranh thiên nhiên ở khổ 2 có điểm nào khác so với khổ 1? Sự khác biệt đó cho biết điều gì về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình?
Trả lời:
- Khác về thời gian và ánh sáng: khổ 1 là nắng sớm; khổ 2 chuyển sang chiều tối rồi đêm trăng, ánh sáng không còn rực rỡ mà dịu, lạnh.
- Khác về không gian: từ khu vườn gần gũi chuyển ra dòng sông, gió, mây – rộng hơn nhưng trống hơn.
- Khác về trạng thái: khổ 1 tươi tắn, đầy sức sống; khổ 2 chia lìa (gió một ngả, mây một ngả), dòng nước mang nỗi buồn của người, hoa bắp chỉ lay khẽ. Cảnh còn nửa thực nửa mộng với con thuyền đậu trên “bến sông trăng”.
- Tâm trạng bộc lộ: niềm vui nhớ về thôn Vĩ đã nhường chỗ cho nỗi buồn và dự cảm chia xa. Câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay?” cho thấy nhân vật trữ tình vẫn hi vọng, vẫn chờ một điều tốt đẹp đến với mình, nhưng chữ kịp lộ ra nỗi lo: thời gian của mình không còn nhiều, sợ điều mong chờ đến muộn.
Câu 3 (trang 42): Qua ba câu hỏi trong ba khổ thơ, nhận xét về cách cấu tứ của bài thơ
Trả lời: Mỗi khổ thơ khép lại hoặc mở ra bằng một câu hỏi, và ba câu hỏi này là ba trụ đỡ của cả bài:
- Khổ 1 mở bằng câu hỏi vừa trách vừa mời: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” – có thể nghe như lời cô gái thôn Vĩ, hoặc như nhà thơ đang tự vấn.
- Khổ 2 khép bằng câu hỏi mong chờ mà thấp thỏm: “Có chở trăng về kịp tối nay?”
- Khổ 3 khép bằng câu hỏi hoài nghi: “Ai biết tình ai có đậm đà?” – hai chữ ai làm cả người hỏi lẫn người được hỏi đều nhoè đi.
⇒ Bài thơ được cấu tứ theo dòng tâm tưởng chứ không theo một cảnh liền mạch: từ một lời mời gọi, nhân vật trữ tình nhớ về thôn Vĩ (thực), rồi trôi sang dòng sông trăng (thực – mộng), cuối cùng chìm vào cõi sương khói của chính mình (mộng). Ba câu hỏi đánh dấu ba bước lùi xa dần khỏi thôn Vĩ, đồng thời là ba bước đi sâu vào nỗi cô đơn. Các khổ thơ tưởng rời rạc nhưng được nối bằng mạch cảm xúc ấy – một cách cấu tứ rất hiện đại so với thơ cùng thời.
Câu 4 (trang 42): Sự đối lập không gian trong Đây thôn Vĩ Dạ (so sánh với bài Nhớ thương)
Trong bài Nhớ thương, Hàn Mặc Tử khắc hoạ tâm trạng của người cung nữ thông qua hình ảnh đối lập giữa “ngoài kia” và “trong đây”:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Không có niềm trăng và ý nhạc
Có người cung nữ nhớ thương vua
Theo em, sự đối lập không gian được thể hiện thế nào trong Đây thôn Vĩ Dạ? Ý nghĩa của sự đối lập này là gì?
Trả lời:
- Hai không gian đối lập:
- Thôn Vĩ – tương ứng với “ngoài kia”: nắng mới, vườn xanh, hàng cau, lá trúc, dòng sông, con thuyền, ánh trăng, con người phúc hậu. Đó là không gian của sự sống, của ánh sáng và tình người.
- “Ở đây” – tương ứng với “trong đây”: chỉ có sương khói, bóng người mờ đi, người thương thành “khách đường xa”, áo trắng đến mức “nhìn không ra”. Đó là không gian khép kín, nhạt nhoà, cô quạnh.
- Cách thể hiện: sự đối lập không nói thẳng mà hiện dần qua ba khổ – ánh sáng giảm từ nắng xuống trăng rồi đến sương; khoảng cách tăng từ “về chơi” đến “đường xa”; màu sắc từ xanh ngọc chuyển sang trắng nhoè.
- Ý nghĩa: giống người cung nữ trong Nhớ thương bị giam trong cung cấm nhìn ra mùa xuân bên ngoài, nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ là người bị bệnh tật ngăn cách khỏi cuộc đời, chỉ còn nhìn về thế giới tươi đẹp kia bằng nỗi nhớ. Sự đối lập vừa làm nổi bật vẻ đẹp của cuộc sống bên ngoài, vừa làm thấm thía bi kịch của người phải đứng ngoài nó. Càng thấy thôn Vĩ đẹp, nỗi cô đơn ở “đây” càng sâu – và tình yêu đời của nhà thơ càng lộ rõ.
Câu 5 (trang 42): Nhận xét tác dụng của một yếu tố tượng trưng trong bài thơ
Trả lời: Em chọn hình ảnh trăng ở khổ 2: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay?”
- Nhận diện: trăng ở đây không chỉ là ánh trăng soi sông Hương. Trăng tràn xuống thành cả “bến sông trăng”, lại có thể được thuyền chở đi như một món hàng. Hình ảnh đã vượt khỏi cảnh thực để trở thành biểu tượng.
- Ý nghĩa tượng trưng: trăng là cái đẹp, là tình yêu, niềm vui sống, là sự giao cảm mà nhân vật trữ tình mong được trao tới. Trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng xuất hiện dày đặc như một người bạn, một nơi gửi lòng; ở bài này trăng gắn với người thôn Vĩ và với hạnh phúc ở ngoài tầm tay.
- Tác dụng với nội dung: nhờ biểu tượng trăng, khát vọng của nhân vật trữ tình được nói ra một cách kín đáo mà đẹp: không đòi gặp, chỉ mong một con thuyền chở trăng về. Câu hỏi “kịp tối nay” vì thế mang hai lớp nghĩa – mong trăng đến kịp đêm nay và lo cuộc đời mình không chờ được lâu. Biểu tượng làm dòng sông Huế trở thành dòng sông mộng, chuẩn bị cho không gian sương khói ở khổ cuối.
Em cũng có thể chọn yếu tố khác như “sương khói” (tượng trưng cho khoảng cách mờ mịt giữa người với người) hay màu áo trắng (vẻ đẹp tinh khiết nhưng xa vời) và phân tích theo cùng cách: chỉ ra hình ảnh – nghĩa biểu tượng – tác dụng làm rõ tâm trạng.

Câu 6 (trang 42): Đoạn văn 8–10 dòng về cảm xúc trước sự day dứt bị bỏ rơi, bị quên lãng
Sự day dứt về thân phận như bị bỏ rơi, bị quên lãng của chủ thể trữ tình gợi cho em cảm xúc gì? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) trình bày cảm xúc đó.
Trả lời: Gợi ý: nêu cảm xúc chính (thương cảm, xót xa, trân trọng), chỉ ra chi tiết thơ khơi dậy cảm xúc, liên hệ hoàn cảnh nhà thơ và rút ra suy nghĩ của bản thân.
Đoạn văn tham khảo: Đọc đến dòng “Ai biết tình ai có đậm đà?”, em thấy lòng mình chùng xuống. Người hỏi câu ấy từng được mời “về chơi thôn Vĩ”, từng nhìn thấy nắng hàng cau và khu vườn xanh như ngọc, vậy mà giờ chỉ còn là “khách đường xa” đứng trong sương khói. Em thương nhà thơ vì nỗi sợ bị lãng quên của ông không phải tưởng tượng: bệnh tật đã đẩy ông ra rìa cuộc sống, bạn bè và người thương đều ở xa. Điều làm em xúc động nhất là ngay cả khi tuyệt vọng, ông vẫn không oán giận ai mà chỉ khẽ hỏi, vẫn mong một con thuyền chở trăng về kịp. Nỗi day dứt ấy nhắc em rằng quanh mình cũng có những người đang lặng lẽ cô đơn – người ốm, người già, người bạn bị xa lánh. Một lời hỏi thăm đúng lúc đôi khi chính là con thuyền chở trăng mà họ chờ đợi.
Đọc Đây thôn Vĩ Dạ trong Bài 6 Thơ của sách Cánh diều
Vì là văn bản thực hành, Đây thôn Vĩ Dạ không có phần hướng dẫn chi tiết như hai văn bản đọc chính. Em nên vận dụng những gì đã làm với Đây mùa thu tới (cảm xúc trước thiên nhiên, cách dùng từ gợi tả) và Sông Đáy (nhận diện yếu tố tượng trưng, cấu tứ của bài thơ). Khi tự đọc, có thể theo trình tự: đọc to cả bài để nghe nhịp; xác định mỗi khổ là cảnh gì, lúc nào; tìm câu hỏi trong từng khổ; chỉ ra hình ảnh vượt khỏi cảnh thực; cuối cùng nối lại thành mạch tâm trạng. Đây cũng là chất liệu tốt cho bài Viết của Bài 6 – nghị luận về một tác phẩm thơ.
Kết luận
Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ theo sách Ngữ văn 11 Cánh diều, em cần nắm ba điều: bức tranh thôn Vĩ chuyển dần từ cảnh thật sang cõi mộng; ba câu hỏi làm nên cấu tứ của bài thơ; sự đối lập giữa thôn Vĩ tươi sáng và “ở đây” mờ sương cùng các hình ảnh tượng trưng như trăng, sương khói – tất cả nói lên tình yêu đời tha thiết và nỗi đau bị cách li của Hàn Mặc Tử.
Nếu còn lúng túng ở câu đầu tiên của bài văn, em có thể tham khảo các mẫu mở bài Đây thôn Vĩ Dạ.
Thử tự lập dàn ý trước rồi so với cảm nhận về khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ, em sẽ thấy mình còn thiếu ý nào.
Xem thêm: