Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ là đoạn khép lại bài nghị luận về bài thơ Hàn Mặc Tử sáng tác năm 1938, văn bản học trong Ngữ văn 11 Cánh diều và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo. Kết bài cần đánh giá lại vẻ đẹp cảnh sắc Huế trong bài thơ, nỗi lòng khao khát gắn bó với đời của thi nhân và để lại dư âm cho người đọc. Dưới đây là 12 mẫu viết sẵn: ngắn gọn, tóm lược, mở rộng, liên hệ và theo từng đề.
Khi được giao chuẩn bị bài ở nhà, em có thể dựa vào phần hướng dẫn soạn Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo.

Cách viết kết bài Đây thôn Vĩ Dạ
- Nhắc lại tên bài thơ, tác giả và đánh giá khái quát những đặc sắc nội dung, nghệ thuật.
- Khép lại đúng vấn đề đã nêu ở mở bài: cả bài thơ, một khổ thơ hay tâm trạng nhân vật trữ tình.
- Có thể mở rộng: vị trí của Hàn Mặc Tử trong Thơ mới, bài thơ cùng đề tài, cảm nghĩ của bản thân về khát vọng sống.
- Không chép lại các ý ở thân bài; kết bài nên gọn, chừng bốn đến bảy câu.
Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn gọn
Mẫu 1 – ngắn gọn
Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh trong trẻo về cảnh sắc, con người đất cố đô, đồng thời là tiếng lòng tha thiết của Hàn Mặc Tử với cuộc đời. Bằng những hình ảnh vừa thực vừa mộng cùng ba câu hỏi day dứt, bài thơ để lại trong người đọc niềm xúc động khó quên về một hồn thơ yêu đời mà bất hạnh.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Bằng thể thơ bảy chữ, hình ảnh giàu sức gợi, sự hòa quyện giữa bút pháp lãng mạn và tượng trưng, Đây thôn Vĩ Dạ đi từ cảnh thực sang cảnh mộng, từ nắng mới đến sương khói, từ niềm vui hội ngộ đến nỗi hoài nghi. Qua hành trình ấy, Hàn Mặc Tử bày tỏ tình yêu với cảnh vật, với người Huế và khát vọng được gắn bó với cuộc đời. Bài thơ cũng cho thấy một phong cách độc đáo: đau thương mà không bi lụy, mơ hồ mà vẫn ấm áp tình người.
Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ mở rộng, liên hệ
Mẫu 3 – khẳng định vị trí bài thơ và tác giả
Trong gia tài thơ không quá đồ sộ của Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vĩ Dạ là bài được nhiều người thuộc và yêu nhất. Nó cho thấy bên cạnh những vần thơ ám ảnh trăng, máu và hồn, nhà thơ còn có một giọng thơ trong trẻo, đằm thắm. Đặt cạnh những thi phẩm xuất sắc của phong trào Thơ mới, bài thơ vẫn giữ được nét riêng khó trộn lẫn: cảnh đẹp như tranh nhưng mọi đường nét đều nhòe đi trong tâm trạng. Chính vì vậy, gần một thế kỉ đã qua, bài thơ vẫn có chỗ đứng vững vàng trong chương trình Ngữ văn và trong lòng người đọc.
Mẫu 4 – liên hệ thôn Vĩ, xứ Huế hôm nay
Ngày nay, nhiều du khách tìm đến thôn Vĩ bên bờ sông Hương, ngắm những khu vườn xanh và hàng cau thẳng tắp, phần nhiều vì đã từng đọc Đây thôn Vĩ Dạ. Một bài thơ ngắn của Hàn Mặc Tử đã làm được điều mà nhiều trang giới thiệu du lịch khó làm: khiến một vùng đất trở nên thân thương với cả những người chưa từng đặt chân tới. Đó là sức mạnh của văn chương chân chính. Khép lại bài thơ, ta thêm yêu Huế, đồng thời thêm trân trọng người thi sĩ đã yêu Huế bằng cả trái tim mình.
Mẫu 5 – liên hệ bản thân về khát vọng sống
Đọc Đây thôn Vĩ Dạ, em không chỉ thấy một thôn Vĩ đẹp như tranh mà còn nghe rõ tiếng nói của một con người không chịu buông xuôi trước số phận. Hàn Mặc Tử bị bệnh tật dày vò, bị cách biệt với cuộc sống, vậy mà vẫn hướng về nắng sớm, vườn xanh và tình người bằng tất cả niềm tha thiết. Bài thơ nhắc em rằng mỗi ngày bình thường được sống, được gặp gỡ người thân yêu đều quý giá biết bao. Biết trân trọng những điều giản dị ấy cũng là cách để đáp lại tấm lòng của người thi sĩ.
Mẫu 6 – mở rộng sang Mùa xuân chín
Nếu Mùa xuân chín đưa người đọc về một làng quê rộn ràng sắc xuân với nỗi nhớ người chị gánh thóc dọc bờ sông, thì Đây thôn Vĩ Dạ đưa ta về xứ Huế với nắng sớm, sông trăng và sương khói. Hai bài thơ của Hàn Mặc Tử gặp nhau ở một điểm: cảnh đời trần thế được nhìn bằng con mắt khao khát, đắm say, nhưng luôn vương nỗi buồn của người đứng ngoài cuộc vui. Đây thôn Vĩ Dạ vì thế góp thêm một minh chứng cho tâm hồn yêu đời đến tận cùng của nhà thơ, một tâm hồn mà bệnh tật có thể làm đau đớn nhưng không thể làm nguội lạnh.
Mẫu 7 – dùng nhận định của Hoài Thanh
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh từng ví thế giới thơ Hàn Mặc Tử như một khu vườn rộng không thấy bờ, càng đi sâu càng thấy rợn. Đây thôn Vĩ Dạ có lẽ là lối vào dịu dàng nhất của khu vườn ấy: ở đó có nắng hàng cau, có vườn cây xanh như ngọc, có dòng sông đẫm ánh trăng. Nhưng càng bước sâu vào bài thơ, người đọc càng cảm nhận cái lạnh của sương khói, của nỗi cô đơn và hoài nghi. Sự đan xen giữa ấm và lạnh, giữa thực và mộng ấy đã làm nên giá trị bền lâu cho bài thơ của Hàn Mặc Tử.
Mẫu 8 – trở lại những câu hỏi trong bài thơ
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ mở ra bằng một câu hỏi và khép lại cũng bằng một câu hỏi. Từ lời mời gọi trở về thôn Vĩ đến nỗi băn khoăn không biết tình người có còn đậm đà, Hàn Mặc Tử đã đi qua cả một hành trình cảm xúc: vui, buồn, mong đợi, rồi hoài nghi. Những câu hỏi ấy không cần lời đáp, bởi chúng là tiếng tự vấn của một tâm hồn cô đơn đang tìm sự đồng cảm. Gấp trang thơ lại, người đọc vẫn như nghe vọng lên lời hỏi han tha thiết ấy, và thấy mình muốn trả lời thay cho thôn Vĩ.
Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ theo đề thường gặp
Mẫu 9 – kết cho đề phân tích khổ thơ thứ nhất
Chỉ với bốn câu thơ, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một thôn Vĩ trong trẻo lúc bình minh, nơi nắng mới, vườn xanh và con người hòa vào nhau thật hài hòa. Khổ thơ đầu của Đây thôn Vĩ Dạ vừa cho thấy tài quan sát tinh tế, vừa chan chứa tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ dành cho xứ Huế. Đằng sau lời mời gọi dịu dàng ở câu mở đầu là niềm khao khát được trở về, một khao khát càng tha thiết khi người thi sĩ biết mình đang ở rất xa chốn thân thương ấy.
Mẫu 10 – kết cho đề phân tích khổ thơ thứ hai
Khổ thơ thứ hai của Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh sông nước Huế đẹp mà buồn. Gió mây chia lối, dòng nước lặng lờ, con thuyền chở trăng chập chờn giữa thực và mộng, tất cả đều phản chiếu tâm trạng cô đơn của Hàn Mặc Tử. Chữ kịp trong câu hỏi cuối khổ như một tiếng thở dài của người đang chạy đua với thời gian. Qua khổ thơ, ta hiểu rằng nỗi buồn của nhà thơ không phải là sự buông xuôi mà là biểu hiện của một tình yêu cuộc sống đến khắc khoải.
Mẫu 11 – kết cho đề phân tích khổ thơ cuối, tâm trạng nhân vật trữ tình
Khép lại bài thơ trong màn sương khói, Hàn Mặc Tử để lại một câu hỏi không lời đáp về tình người. Khổ cuối Đây thôn Vĩ Dạ cho thấy rõ nhất những biến chuyển trong lòng nhân vật trữ tình: mơ tưởng, ngóng trông rồi hoài nghi, mặc cảm. Thế nhưng chính nỗi hoài nghi ấy lại chứng tỏ nhà thơ khao khát được yêu thương đến nhường nào, bởi chỉ người thiết tha với tình đời mới băn khoăn về độ đậm nhạt của nó. Tâm trạng ấy khiến bài thơ vẫn chạm tới trái tim người đọc hôm nay.
Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ nâng cao
Mẫu 12 – học sinh giỏi, từ những khoảng cách trong bài thơ
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ của những khoảng cách: khoảng cách giữa người đi xa và thôn Vĩ, giữa cõi thực và cõi mộng, giữa khát vọng yêu thương và hiện thực chia lìa. Hàn Mặc Tử không xóa được những khoảng cách ấy trong đời, nhưng ông đã bắc cầu qua chúng bằng thơ. Mỗi hình ảnh trong bài, từ hàng cau đón nắng đến bến sông trăng và bóng áo trắng, đều là một nhịp cầu nối tâm hồn thi sĩ với cuộc đời. Vì thế, bài thơ không chỉ cho ta thấy vẻ đẹp xứ Huế mà còn cho ta hiểu sức mạnh của nghệ thuật: biến nỗi đau riêng thành vẻ đẹp chung, biến tiếng kêu cô đơn thành lời đồng cảm vượt qua thời gian. Hàn Mặc Tử ra đi khi còn rất trẻ, nhưng thôn Vĩ của ông vẫn còn mãi, nắng vẫn mới, vườn vẫn xanh trong lòng bao thế hệ bạn đọc.
Nên chọn mẫu kết bài Đây thôn Vĩ Dạ nào?
Mười hai mẫu kết bài Đây thôn Vĩ Dạ ở trên giúp em khép lại bài nghị luận về bài thơ của Hàn Mặc Tử theo nhiều hướng: tóm lược giá trị, khẳng định vị trí, liên hệ xứ Huế hôm nay, liên hệ bản thân hay trở lại những câu hỏi trong bài. Với đề phân tích từng khổ thơ, hãy chọn mẫu theo đề để phần kết khớp với thân bài. Em nên điều chỉnh câu chữ cho hợp với mở bài đã chọn và giữ phần kết ngắn gọn, giàu cảm xúc.
Đặt câu trả lời của mình cạnh phần hướng dẫn soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ chương trình cũ, em sẽ biết còn thiếu ý nào.
Xem thêm:
- Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn nhất
- Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
- Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ
- Tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử: quê quán, cuộc đời và sự nghiệp
- Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, theo đề