Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ Hàn Mặc Tử viết năm 1938, văn bản học trong Ngữ văn 11 Cánh diều và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo. Một mở bài hay cần gợi được cả vẻ đẹp xứ Huế lẫn niềm khao khát gắn bó với cuộc đời của người thi sĩ đang mang bệnh hiểm nghèo. Dưới đây là 13 mẫu viết sẵn, chia theo kiểu trực tiếp, gián tiếp, theo đề thường gặp và nâng cao.
Khi làm bài nghị luận văn học, bài phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ là nguồn gợi ý luận điểm đáng tham khảo.

Cách viết mở bài Đây thôn Vĩ Dạ
- Giới thiệu đúng tác giả: Hàn Mặc Tử (1912–1940), tên thật Nguyễn Trọng Trí, một gương mặt độc đáo bậc nhất của phong trào Thơ mới.
- Nêu đúng xuất xứ: bài thơ viết năm 1938, in trong tập Thơ Điên (về sau đổi tên là Đau thương); cảm hứng khơi lên từ tấm bưu ảnh Hoàng Thị Kim Cúc gửi từ Huế.
- Câu chốt phải bám đề: cả bài thơ, một khổ thơ, tâm trạng nhân vật trữ tình hay bức tranh cảnh sắc và con người nơi thôn Vĩ.
- Nếu trích thơ, chép đúng văn bản trong SGK và chỉ nên trích một câu cho gọn; phần còn lại diễn đạt bằng lời của mình.
Mở bài trực tiếp Đây thôn Vĩ Dạ
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ Hàn Mặc Tử viết năm 1938, in trong tập Thơ Điên. Qua bức tranh thôn Vĩ lúc ban mai, dòng sông đêm trăng và màn sương khói mờ ảo, bài thơ bộc lộ tình yêu tha thiết dành cho xứ Huế, cho cuộc đời, cùng nỗi buồn cô đơn của một hồn thơ luôn khao khát được gắn bó với thế giới bên ngoài.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Hàn Mặc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912 ở Quảng Bình và qua đời năm 1940 khi mới hai mươi tám tuổi. Cuộc đời ngắn ngủi, bị bệnh phong hành hạ, nhưng ông để lại một sự nghiệp thơ khiến người đời sau còn kinh ngạc. Đây thôn Vĩ Dạ ra đời năm 1938, khởi nguồn từ tấm bưu ảnh phong cảnh Huế cùng mấy lời thăm hỏi mà Hoàng Thị Kim Cúc gửi tới người thi sĩ đang ốm nặng. Từ một món quà nhỏ, Hàn Mặc Tử dựng lên cả một thế giới: thôn Vĩ tươi sáng trong nắng sớm, dòng sông chia lìa dưới trăng, cõi sương khói nhòa bóng người. Bài thơ vì thế vừa là bức tranh xứ Huế, vừa là nỗi niềm của một người yêu đời đến xót xa.
Mở bài gián tiếp Đây thôn Vĩ Dạ
Mẫu 3 – từ vẻ đẹp xứ Huế
Huế có dòng Hương lặng lờ, có những khu vườn xanh rợp sau rặng trúc và những tà áo trắng thấp thoáng bên bến sông. Biết bao thi sĩ đã viết về Huế, nhưng ít ai khiến một làng nhỏ ven sông trở nên ám ảnh như Hàn Mặc Tử. Chỉ với ba khổ thơ bảy chữ, Đây thôn Vĩ Dạ đã đưa cái tên thôn Vĩ vào trí nhớ của nhiều thế hệ bạn đọc. Thế nhưng sau vẻ đẹp nên thơ của cảnh và người, bài thơ còn cất giấu một nỗi niềm sâu kín: mong ước được trở về, được yêu thương của một người đang dần bị tách khỏi nhịp sống thường ngày.
Mẫu 4 – từ phong trào Thơ mới và cái tôi cá nhân
Phong trào Thơ mới (1932–1945) mang đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái tôi rất riêng: Xuân Diệu say đắm, vồ vập; Huy Cận buồn mênh mang trước trời rộng sông dài; Nguyễn Bính chân quê mộc mạc. Giữa những gương mặt ấy, Hàn Mặc Tử là một hiện tượng lạ, thơ ông khi trong veo, khi ma mị, chập chờn giữa thực và mộng. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ giúp người đọc nhận ra cả hai nét ấy: một bên là cảnh sắc Huế trong trẻo, một bên là tâm hồn cô đơn, hoài nghi, luôn chới với bên ranh giới của sự sống.
Mẫu 5 – từ cuộc đời tài hoa bạc mệnh của tác giả
Văn học Việt Nam có không ít người tài hoa mà đoản mệnh, nhưng hiếm có số phận nào khiến người đọc thương cảm như Hàn Mặc Tử. Mắc bệnh phong khi tuổi còn trẻ, ông phải chịu đau đớn thể xác và sự xa lánh của người đời, rồi ra đi ở tuổi hai mươi tám. Lạ thay, chính trong những năm tháng ấy, thơ ông lại cất lên tình yêu đời mãnh liệt. Đây thôn Vĩ Dạ, sáng tác năm 1938, là một minh chứng: người thi sĩ không quay lưng với cuộc đời mà vẫn hướng trọn tâm hồn về thôn Vĩ, về nắng sớm, vườn xanh và bóng người xứ Huế, dẫu biết mình khó có ngày trở lại.
Mẫu 6 – từ câu hỏi mở đầu bài thơ
Có những bài thơ mở ra bằng một lời tả, có bài mở ra bằng một tiếng gọi. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử lại bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Câu hỏi nghe như lời cô gái Huế trách nhẹ người phương xa, nhưng cũng có thể là lời nhà thơ tự hỏi chính mình. Từ đó, bài thơ trải ra một hành trình cảm xúc đi từ nắng mới thôn Vĩ, qua dòng sông trăng chia lìa, đến cõi sương khói mờ nhòa, để lại trong lòng người đọc nỗi day dứt khôn nguôi về tình người, tình đời.
Mẫu 7 – so sánh với các bài thơ cùng thời về thiên nhiên
Thiên nhiên trong Thơ mới thường thấm đẫm tâm trạng con người. Tràng giang của Huy Cận gợi nỗi sầu vũ trụ trước sông dài trời rộng, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu nhuốm màu luyến tiếc trước sự tàn phai. Đến Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử mang tới một khung cảnh vừa thực vừa mộng: thôn Vĩ có nắng hàng cau, có vườn xanh mướt, có dòng sông đẫm ánh trăng, nhưng tất cả lại như đang trôi xa khỏi tầm với của thi nhân. Cảnh càng đẹp, nỗi cô đơn của người ngắm cảnh càng hiện rõ, và đó chính là sức hút riêng của bài thơ.
Mẫu 8 – từ nhận định của Chế Lan Viên
Viết về người bạn thơ của mình, Chế Lan Viên từng tin rằng khi những gì tầm thường của một thời đã phai mờ, cái tên còn lại đáng kể sẽ là Hàn Mặc Tử. Gần một thế kỉ trôi qua, niềm tin ấy càng tỏ ra có cơ sở, và Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ làm nên sức sống bền bỉ của tên tuổi ấy. Bài thơ không cầu kì chữ nghĩa, không dồn dập hình ảnh kì dị như nhiều trang Thơ Điên khác, mà dịu dàng, trong trẻo, để rồi càng đọc càng thấm nỗi buồn của một tâm hồn yêu đời mà phải sống trong chia lìa.
Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ theo đề thường gặp
Mẫu 9 – đề phân tích khổ thơ thứ nhất
Mỗi người khi nhớ về một vùng đất thường nhớ trước tiên khoảnh khắc đẹp nhất của nó. Với Hàn Mặc Tử, thôn Vĩ hiện về trong buổi sớm mai, khi ánh nắng đầu ngày vừa chạm tới ngọn cau. Khổ thơ đầu của Đây thôn Vĩ Dạ chỉ có bốn câu nhưng đủ dựng lên một bức tranh tươi sáng: nắng mới, khu vườn mướt xanh như ngọc, lá trúc và gương mặt phúc hậu của người xứ Huế. Phân tích khổ thơ này, ta sẽ thấy tình yêu thiên nhiên, con người cùng mong ước trở về của nhà thơ được gửi gắm tinh tế trong từng hình ảnh.
Mẫu 10 – đề phân tích khổ thơ thứ hai
Nếu khổ đầu Đây thôn Vĩ Dạ ngập trong nắng sớm thì sang khổ thứ hai, Hàn Mặc Tử đưa người đọc vào một không gian khác hẳn: gió, mây, dòng nước, hoa bắp và một con thuyền đậu bên bến trăng. Cảnh vẫn đẹp nhưng đã nhuốm màu chia lìa, mỗi vật đi một ngả, dòng sông như cũng mang nỗi buồn. Câu hỏi khép lại khổ thơ, “Có chở trăng về kịp tối nay?”, chất chứa niềm mong đợi lẫn nỗi lo âu của người cảm thấy quỹ thời gian của mình không còn nhiều. Phân tích khổ thơ thứ hai là đi sâu vào tâm trạng cô đơn và niềm khắc khoải ấy.
Mẫu 11 – đề phân tích khổ thơ cuối, tâm trạng nhân vật trữ tình
Khổ thơ cuối của Đây thôn Vĩ Dạ là nơi Hàn Mặc Tử bộc lộ trực tiếp nhất thế giới nội tâm của mình. Thôn Vĩ thực đã lùi xa, chỉ còn lại cõi mơ, bóng khách phương xa và màu áo trắng tới mức không nhìn rõ. Cả không gian chìm trong sương khói, hình người nhòa đi, để rồi bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi đầy hoài nghi: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Phân tích khổ thơ này giúp ta hiểu nỗi cô đơn và mặc cảm của nhà thơ, đồng thời nhận ra niềm khao khát được yêu thương, được tin vào tình người chưa bao giờ tắt trong ông.
Mẫu 12 – đề bình luận ý kiến về chủ đề bài thơ
Có ý kiến cho rằng Đây thôn Vĩ Dạ chỉ là bài thơ Hàn Mặc Tử viết về mối tình dành cho một cô gái Huế. Nhận xét ấy có cơ sở, bởi bài thơ gắn với kỉ niệm về Hoàng Thị Kim Cúc và thấp thoáng trong đó bóng dáng một giai nhân áo trắng. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, ta sẽ bỏ qua những tầng nghĩa rộng hơn: tình yêu thiên nhiên Huế, nỗi cô đơn của con người bị bệnh tật chia cách và niềm khát khao giao hòa với cuộc đời. Bài viết sau sẽ bàn luận ý kiến trên để thấy mối tình riêng đã hòa vào tình yêu lớn của thi nhân.
Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ nâng cao
Mẫu 13 – học sinh giỏi, từ thơ như cách níu giữ sự sống
Thơ vẫn được xem là nơi tâm hồn cất tiếng, nhưng với Hàn Mặc Tử, thơ còn là cách để níu giữ sự sống. Bị bệnh tật giam hãm, phải sống gần như cách biệt với mọi người, ông vẫn viết về trăng, về hoa, về những người con gái đẹp với một niềm say mê kì lạ. Đây thôn Vĩ Dạ, bài thơ ra đời năm 1938, cho thấy rõ nghịch lí ấy. Bức tranh thôn Vĩ ngập nắng sớm, dòng sông chở ánh trăng, bóng áo trắng mờ trong sương đều được nhìn qua đôi mắt của người đang đứng ở rất xa, chỉ có thể tìm đến bằng hoài niệm và mộng tưởng. Càng yêu cảnh, nhà thơ càng thấm thía khoảng cách giữa mình với cõi đời. Tìm hiểu bài thơ là lắng nghe cuộc đối thoại thầm lặng giữa một tình yêu đời mãnh liệt và một số phận nghiệt ngã, nơi vẻ đẹp và nỗi đau cùng hiện diện trong từng câu chữ.
Nên chọn mẫu mở bài Đây thôn Vĩ Dạ nào?
Mười ba mẫu mở bài Đây thôn Vĩ Dạ trên đây đi vào bài thơ của Hàn Mặc Tử từ nhiều lối: tác giả, hoàn cảnh ra đời, vẻ đẹp xứ Huế, phong trào Thơ mới hay câu hỏi mở đầu. Bài kiểm tra ngắn nên dùng mẫu trực tiếp; đề phân tích từng khổ thơ hoặc bình luận ý kiến thì chọn mẫu theo đề; bài thi học sinh giỏi có thể dùng mẫu nâng cao. Dù chọn mẫu nào, em nên viết lại bằng giọng văn riêng và giữ câu chốt khớp với yêu cầu của đề.
Ở phần thân bài, em có thể học cách sắp xếp luận điểm qua cảm nhận về khổ cuối Đây thôn Vĩ Dạ.
Xem thêm:
- Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn nhất
- Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
- Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ
- Tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử: quê quán, cuộc đời và sự nghiệp
- Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề