Ngôi thứ 2 là ngôi chỉ người đang nghe, người được nói tới trực tiếp trong cuộc trò chuyện: bạn, cậu, mày, anh, chị, các em… Học sinh gặp cụm này ở hai chỗ. Trong ngữ pháp, ngôi thứ hai là một vị trí giao tiếp. Trong văn tự sự, ngôi kể thứ 2 là lối kể hiếm gặp, khi người kể gọi thẳng nhân vật chính là “bạn”.
| Khái niệm | Ngôi chỉ người nghe, người được hướng lời tới trực tiếp |
| Từ tiêu biểu | bạn, cậu, mày, ngươi, các bạn, chúng mày; danh từ thân tộc khi dùng để gọi (anh, chị, em, ông, bà) |
| Thuộc | Phạm trù ngôi của đại từ (ngữ pháp); cách chọn người kể (văn tự sự) |
| Dấu hiệu nhận biết | Từ ấy chỉ đúng người đang nghe, thay được bằng “bạn” mà câu vẫn giữ nghĩa |

Ngôi thứ 2 là người đang nghe
Mọi cuộc nói chuyện đều có ba vai. Người nói đứng ở ngôi thứ nhất, người nghe ở ngôi thứ hai, còn người hay vật được nhắc tới mà không có mặt trong cuộc trao đổi thì ở ngôi thứ ba. Các nhà ngữ pháp gọi chuyện ai nói, ai nghe, ai bị nhắc tới là phạm trù ngôi, và tiếng Việt thể hiện nó chủ yếu qua từ xưng hô. Ngôi thứ hai, vì thế, chỉ có nghĩa khi có một người đang đứng trước mặt (hay đang đọc tin nhắn) để nhận lời.
Trong tiếng Việt, đại từ ngôi thứ hai thuần chất không nhiều: mày, ngươi, bay, mi, cậu. Phần lớn thời gian người Việt gọi nhau bằng danh từ chỉ quan hệ họ hàng như anh, chị, em, cô, chú, bác, ông, bà. Những từ này chỉ “lên ngôi” thứ hai khi dùng để gọi người nghe. Bảng tổng hợp các đại từ chia theo ngôi và số có ở bài đại từ nhân xưng theo ngôi và số.
Hai chỗ dùng: trong câu nói và trong lời kể
Ngôi thứ hai trong ngữ pháp
Đây là nghĩa gặp nhiều nhất. Câu “Cậu làm xong bài chưa?” có chủ ngữ ở ngôi thứ hai. Số ít là một người nghe (bạn, mày, em), số nhiều là nhiều người nghe (các bạn, chúng mày, các em, bọn bay). Tiếng Việt không chia động từ theo ngôi như tiếng Pháp hay tiếng Nga, nên ngôi chỉ lộ ra qua từ xưng hô.
Ngôi kể thứ hai trong truyện
Ở văn tự sự, ngôi kể là chỗ đứng của người kể chuyện. Người kể xưng “tôi” là ngôi thứ nhất; người kể đứng ngoài, gọi nhân vật bằng tên hay “anh ta”, “cô ấy” là ngôi thứ ba. Ngôi kể thứ 2 thì lạ hơn: người kể gọi nhân vật chính là “bạn” và kể lại việc “bạn” làm, như thể đang nói vào tai người đọc. Ví dụ tự viết: “Bạn mở cửa lớp. Ba mươi cái đầu quay lại. Bạn chợt hiểu mình đã đi muộn đúng vào giờ kiểm tra.”
Chương trình Ngữ văn phổ thông chủ yếu dạy hai ngôi còn lại; muốn so lại, xem dấu hiệu của ngôi kể thứ nhất và người kể chuyện giấu mình ở ngôi thứ ba.
Ngôi thứ hai trong thơ và tiểu thuyết
Một câu hỏi gửi “anh” ở thôn Vĩ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Câu mở đầu Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử dùng “anh” ở ngôi thứ hai: một lời trách, lời mời hướng tới người nghe. Cái hay là người nghe ấy không rõ là ai. Có người đọc thành lời cô gái thôn Vĩ, có người đọc thành nhà thơ tự hỏi chính mình. Chính sự mơ hồ của ngôi thứ hai làm câu thơ vừa thân mật vừa xa vắng. Bài phân tích khổ đầu bài thơ về thôn Vĩ bàn kĩ chỗ này.
Bức thư: nơi ngôi thứ hai tự nhiên nhất
Thư từ là thể văn mà ngôi thứ hai có mặt gần như ở mỗi câu: “Bố ơi, bố có khỏe không?”, “Con biết mẹ lo lắm.” Người viết xưng ngôi thứ nhất, người nhận ở ngôi thứ hai, nên khi học viết thư, các em đang luyện chính cách dùng ngôi này. Có thể đọc các mẫu trong bài văn viết thư của học sinh lớp 4.
Tiểu thuyết kể bằng “bạn”
Văn học thế giới có vài cuốn nổi tiếng nhờ kể trọn bằng ngôi thứ hai. La Modification (1957) của Michel Butor gọi nhân vật là “vous” suốt chuyến tàu từ Paris đi Rome. Bright Lights, Big City (1984) của Jay McInerney dùng “you” để kéo người đọc vào những đêm lạc lối ở New York. Giới phê bình hay nhắc hai cuốn này như ví dụ hiếm hoi, vì giữ được ngôi thứ hai suốt một cuốn sách là chuyện khó.
Nhận ra ngôi thứ hai bằng ba phép thử
- Hỏi “từ này chỉ ai?”. Nếu nó chỉ đúng người đang nghe hay đang đọc thì đó là ngôi thứ hai. “Anh” trong “Anh ăn cơm chưa?” là ngôi thứ hai; “anh” trong “Anh đi làm về muộn” do người vợ kể với hàng xóm lại là ngôi thứ ba.
- Thay bằng “bạn”. Đặt “bạn” vào chỗ từ cần xét. Nếu câu vẫn giữ nghĩa (chỉ đổi sắc thái lịch sự) thì từ đó đang ở ngôi thứ hai.
- Tách lời thoại khỏi lời kể. Truyện ngôi thứ ba vẫn có lời thoại chứa “mày”, “cậu”. Chỉ khi “bạn” nằm trong chính lời người kể, không nằm trong ngoặc kép của nhân vật, mới tính là ngôi kể thứ hai.
Một từ dễ đánh lừa là mình. Vợ chồng gọi nhau “mình ơi” thì “mình” ở ngôi thứ hai; một bạn nhỏ nói “mình đi học đây” thì “mình” lại là ngôi thứ nhất. Từ ta cũng vậy, lúc là “tôi”, lúc là “chúng ta”.
Đặt ba ngôi cạnh nhau
| Tiêu chí | Ngôi thứ nhất | Ngôi thứ hai | Ngôi thứ ba |
|---|---|---|---|
| Chỉ ai | Người nói | Người nghe | Người, vật được nhắc tới |
| Từ tiêu biểu | tôi, tớ, mình, chúng tôi | bạn, cậu, mày, các bạn | nó, hắn, họ, anh ấy |
| Khi làm ngôi kể | Người kể xưng “tôi” | Người kể gọi nhân vật chính là “bạn” | Người kể đứng ngoài, gọi tên nhân vật |
| Hiệu quả | Gần gũi, chân thực, lộ nội tâm | Kéo người đọc vào vai, tạo cảm giác đối thoại | Bao quát, khách quan |
| Mức phổ biến trong truyện | Nhiều | Rất ít | Nhiều nhất |
Ngoài truyện, ngôi thứ hai xuất hiện dày đặc trong lời hướng dẫn (“Bạn nhấn nút nguồn…”), quảng cáo và sách trò chơi phiêu lưu cho người đọc tự chọn lối đi.
Năm bài tập nhận diện ngôi thứ hai
Câu 1: Tìm từ ở ngôi thứ hai trong câu: “Tớ đợi cậu ở cổng trường, các bạn khác về hết rồi.”
Đáp án: “Cậu” là ngôi thứ hai số ít, chỉ người nghe. “Tớ” ở ngôi thứ nhất. “Các bạn khác” không phải người nghe mà là những người được nhắc tới, nên thuộc ngôi thứ ba dù có chữ “bạn”.
Câu 2: Trong câu “Bà ơi, bà ngồi nghỉ đi, để cháu quét sân cho”, từ “bà” ở ngôi nào?
Đáp án: Ngôi thứ hai. “Bà” vốn là danh từ chỉ quan hệ họ hàng, nhưng ở đây người cháu dùng để gọi chính người đang nghe, nên nó làm nhiệm vụ của từ ngôi thứ hai.
Câu 3: Đoạn sau kể theo ngôi nào: “Bạn bước xuống sân ga lúc nửa đêm. Không ai đón. Bạn kéo vali đi dọc con phố lạ, đếm từng ngọn đèn.”
Đáp án: Ngôi kể thứ hai. “Bạn” là nhân vật chính và nằm trong lời người kể chứ không phải lời thoại. Lối kể này đặt người đọc vào vị trí nhân vật, khiến cảnh sân ga nửa đêm như đang xảy ra với chính mình.
Câu 4: Chuyển câu “Lan mở hộp quà và bật khóc” sang ngôi kể thứ hai, rồi nhận xét sự khác biệt.
Đáp án tham khảo: “Bạn mở hộp quà và bật khóc.” Câu gốc kể từ bên ngoài, người đọc chứng kiến Lan khóc. Câu mới bắt người đọc tự nhận lấy giọt nước mắt ấy, nên gần hơn nhưng cũng dễ gây cảm giác bị áp đặt nếu kéo dài cả truyện.
Câu 5: Trong câu thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, từ “anh” thuộc ngôi nào? Cách dùng ấy tạo hiệu quả gì?
Đáp án: “Anh” ở ngôi thứ hai, là người được hỏi. Vì không rõ người hỏi và người được hỏi là ai, câu thơ có thể hiểu là lời mời của cô gái xứ Huế hoặc lời nhà thơ tự trách mình. Ngôi thứ hai giúp câu hỏi vừa như trò chuyện thân tình, vừa gợi nỗi khao khát được trở về.
Ngôi thứ hai trong tiếng Anh, trong thư và trong bài văn
Ngôi thứ hai là gì trong tiếng Anh?
Tiếng Anh gọi là second person, đại từ chính là you, dùng chung cho cả số ít lẫn số nhiều; tính từ sở hữu là your. Dạng cổ thou chỉ còn trong văn bản xưa.
Ngôi kể thứ 2 là gì, có phải ngôi kể thứ hai không?
Là một. Viết “thứ 2” hay “thứ hai” đều chỉ lối kể mà người kể gọi nhân vật chính bằng “bạn” (hoặc “anh”, “em”) ngay trong lời kể.
Viết bài văn kể chuyện ở trường có nên dùng ngôi thứ hai không?
Đề thường yêu cầu ngôi thứ nhất hoặc thứ ba, nên làm bài kiểm tra thì bám theo yêu cầu đó. Ngôi thứ hai hợp với bài viết sáng tạo ngắn, nhật kí gửi chính mình hay thư; dùng trong bài thi dễ bị cho là lạc yêu cầu.
Đại từ ngôi thứ 2 gồm những từ nào?
Số ít có mày, mi, cậu, bạn, ngươi; số nhiều có chúng mày, bay, các bạn, các cậu. Thêm vào đó là cả loạt danh từ thân tộc dùng để gọi người nghe như anh, chị, em, ông, bà, cô, chú, tùy tuổi tác và độ thân.