Biểu cảm là bộc lộ tình cảm, cảm xúc ra bên ngoài để người khác thấy và hiểu, qua nét mặt, giọng nói hay câu chữ. Trong môn Ngữ văn, biểu cảm còn là một phương thức biểu đạt: văn biểu cảm là kiểu văn bản viết ra chủ yếu để giãi bày cảm xúc, suy nghĩ của người viết trước con người, cảnh vật, sự việc.
| Khái niệm | Biểu hiện tình cảm, cảm xúc; trong văn bản là bộc lộ cảm xúc của người viết |
| Gốc từ | Hán Việt 表感: biểu (bày ra ngoài) + cảm (xúc động trong lòng) |
| Thuộc | Một trong các phương thức biểu đạt, cùng tự sự, miêu tả, nghị luận, thuyết minh |
| Dấu hiệu nhận biết | Từ ngữ cảm xúc, câu cảm thán, lời gọi, hình ảnh gửi gắm tâm trạng |
| Học ở | Ngữ văn 6, 7 (viết đoạn, bài văn biểu cảm) và các đề đọc hiểu |

Chữ biểu cảm, từ gương mặt đến trang văn
Nhìn một người diễn viên nhíu mày, mím môi rồi bật khóc, ta khen “diễn xuất giàu biểu cảm”. Thấy một đứa trẻ vừa cười vừa nhảy cẫng lên khi được quà, ta bảo “gương mặt biểu cảm quá”. Đến lúc mở bài văn của học trò, cô giáo lại dặn “đoạn này cần biểu cảm hơn”. Ba hoàn cảnh, một ý chung: điều trong lòng được đưa ra ngoài cho người khác cảm thấy.
Chữ Hán của từ này nói đúng điều đó. Theo Thiều Chửu, biểu (表) có nghĩa là ở ngoài, tỏ rõ cho người khác biết, như trong đại biểu, biểu lộ. Cảm (感) là cảm động, xúc động đến tính tình bên trong, như trong cảm xúc, cảm kích. Ghép lại, biểu cảm là đem cái cảm bên trong bày ra bên ngoài. Từ điển tiếng Việt xếp biểu cảm là động từ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ, giảng là biểu hiện tình cảm, cảm xúc, ví dụ “ngôn ngữ giàu sức biểu cảm”.
Trong nhà trường, chữ này gắn với sáu phương thức biểu đạt trong đề đọc hiểu. Sách Ngữ văn 7 chương trình cũ có hẳn một chùm bài về văn biểu cảm, gọi nó bằng một tên khác là văn trữ tình, và nói rõ: tình cảm trong văn biểu cảm thường là tình cảm đẹp, giàu tính nhân văn, như yêu quê hương, thương cha mẹ, quý bạn bè. Sách mới không tách thành chương riêng nhưng vẫn yêu cầu học sinh viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ, viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc.
Dấu hiệu nhận ra phương thức biểu cảm
Khi đề hỏi “phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là gì”, có mấy dấu hiệu giúp nhận ra biểu cảm:
- Từ ngữ gọi thẳng tên cảm xúc: thương, nhớ, yêu, xót xa, bồi hồi, tự hào, day dứt.
- Câu cảm thán và lời gọi: “Ôi, quê hương!”, “Mẹ ơi!”, “Biết bao…”, “Thương quá!”.
- Người viết xuất hiện bằng ngôi thứ nhất và nói về lòng mình chứ không chỉ kể hay tả.
- Hình ảnh mang tâm trạng: cảnh vật được nhìn qua cảm xúc, như con đò “buồn”, vầng trăng “lặng lẽ”.
Cần nhớ rằng văn biểu cảm hiếm khi đứng một mình. Người viết thường kể một kỷ niệm, tả một khuôn mặt để có chỗ gửi cảm xúc. Tự sự và miêu tả lúc ấy là cái nền; câu hỏi cần đặt ra là đoạn văn viết ra để làm gì. Nếu mục đích cuối cùng là bày tỏ lòng mình, đó là biểu cảm. Cách các yếu tố kể chuyện chen vào thơ, văn trữ tình được bàn ở bài yếu tố tự sự xen trong thơ và văn trữ tình.
Biểu cảm trực tiếp và biểu cảm gián tiếp
Các tài liệu dạy văn đều chia cách biểu cảm thành hai đường:
| Tiêu chí | Biểu cảm trực tiếp | Biểu cảm gián tiếp |
|---|---|---|
| Cách làm | Nói thẳng cảm xúc bằng từ ngữ, câu cảm thán, lời gọi | Gửi cảm xúc qua hình ảnh, cảnh vật, sự việc, biện pháp tu từ |
| Người đọc nhận ra | Ngay ở bề mặt câu chữ | Phải suy ra từ hình ảnh, từ cách kể |
| Ví dụ | “Con nhớ mẹ nhiều lắm, mẹ ơi!” | “Chiếc áo len mẹ đan vẫn nằm gọn trong góc tủ, mỗi mùa đông con lại lấy ra mặc.” |
| Dễ mắc lỗi | Lạm dụng “ôi”, “biết bao” thành sáo rỗng | Kể và tả quá dài, cảm xúc bị chìm mất |
Một bài văn hay thường dùng cả hai: để hình ảnh dẫn đường, rồi đặt một câu bộc lộ trực tiếp ở chỗ cảm xúc dâng cao nhất. Bài văn mẫu biểu cảm về con người hoặc sự việc lớp 7 có nhiều đoạn cho thấy cách phối hợp này.
Ca dao, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng mình ra sao?
Ba ví dụ dưới đây đi từ thẳng thắn nhất đến kín đáo nhất.
Nỗi nhớ nói thành lời trong ca dao
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Người con gái đi lấy chồng xa không giấu lòng mình: “ruột đau chín chiều” là cách nói trực tiếp, lại phóng đại để nỗi nhớ quê mẹ thành nỗi đau thắt ruột. Nhưng câu đầu vẫn có một hình ảnh đứng lặng ở ngõ sau lúc chiều xuống, thời điểm gợi buồn quen thuộc của ca dao. Trực tiếp và gián tiếp đã đi cùng nhau ngay trong hai dòng.
Chiếc bánh trôi mang thân phận người phụ nữ
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương bề ngoài là tả một chiếc bánh: trắng, tròn, lúc nổi lúc chìm trong nồi nước. Đằng sau đó là tiếng nói của người phụ nữ bị người khác định đoạt số phận mà vẫn giữ tấm lòng thủy chung. Bà không viết câu nào kiểu “tôi uất ức” hay “tôi tự hào”; cảm xúc gửi trọn vào hình ảnh, đó là biểu cảm gián tiếp. Xem thêm bài tác phẩm Bánh trôi nước trong sách Ngữ văn 7.
Một câu thơ dồn cả tình bạn
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Suốt sáu câu trước, Nguyễn Khuyến kể vui rằng nhà chẳng có gì đãi bạn: ao sâu khó bắt cá, cải chưa ra cây, đến miếng trầu cũng không. Câu cuối mới bật ra tình cảm: chỉ cần “ta với ta” là đủ. Cảm xúc được nén qua một chuỗi chuyện kể hài hước rồi bộc lộ ở một câu ngắn. Muốn viết bài cảm nhận về cả bài thơ, có thể tham khảo dàn ý phân tích Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.
Thực hành: bốn câu nhận diện biểu cảm
Câu 1: Đoạn văn dưới đây dùng phương thức biểu đạt chính nào?
“Ôi, mái trường thân yêu! Mỗi lần đi ngang cổng trường cũ, lòng tôi lại bồi hồi như vừa đánh rơi một điều gì quý giá.”
Đáp án: Phương thức chính là biểu cảm. Dấu hiệu: câu cảm thán “Ôi, mái trường thân yêu!”, từ ngữ cảm xúc “bồi hồi”, người viết xưng “tôi” và nói về lòng mình. Câu so sánh “như vừa đánh rơi một điều gì quý giá” giúp cảm xúc cụ thể hơn.
Câu 2: Câu “Cây bàng trước lớp lại trơ cành, tôi biết mình sắp phải xa nơi này” là biểu cảm trực tiếp hay gián tiếp? Vì sao?
Đáp án: Gián tiếp. Câu không gọi tên cảm xúc nào (buồn, nhớ, tiếc), mà để hình ảnh cây bàng trơ cành và ý “sắp phải xa” gợi ra nỗi bịn rịn. Người đọc tự cảm thấy, không phải đọc thấy chữ “buồn”.
Câu 3: Hãy chuyển câu “Em thương bà lắm” thành một câu biểu cảm gián tiếp.
Đáp án tham khảo: “Mỗi lần về quê, em lại ngồi nhổ tóc sâu cho bà, nghe bà kể chuyện ngày xưa đến khi bà thiu thiu ngủ.” Câu không còn chữ “thương”, nhưng việc làm nhỏ và sự kiên nhẫn của đứa cháu cho thấy tình cảm ấy.
Câu 4: Trong hai câu thơ “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, / Mà em vẫn giữ tấm lòng son”, tác giả bộc lộ cảm xúc gì và bằng cách nào?
Đáp án: Tác giả bộc lộ sự tự tin, tự hào về phẩm chất thủy chung, son sắt của người phụ nữ, kèm chút xót xa vì thân phận bị người khác “nặn” ra. Cảm xúc được gửi qua hình ảnh chiếc bánh trôi (biểu cảm gián tiếp), với cặp từ đối lập “mặc dầu… mà vẫn” làm nổi bật ý chí giữ mình.
Biểu cảm trong tiếng Anh, trong emoji và trong đề đọc hiểu
Văn biểu cảm là gì?
Là kiểu văn bản viết ra chủ yếu để bày tỏ tình cảm, cảm xúc và cách đánh giá của người viết với con người, sự vật, sự việc, đồng thời khơi lên sự đồng cảm ở người đọc. Thơ trữ tình, ca dao trữ tình, tùy bút đều thuộc loại này.
Phương thức biểu cảm là gì?
Là cách dùng ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc của người nói, người viết. Trong đề đọc hiểu, khi văn bản có nhiều từ ngữ cảm xúc, câu cảm thán và người viết chủ yếu nói về lòng mình, thường chọn biểu cảm là phương thức chính.
Biểu cảm tiếng Anh là gì?
Tùy ngữ cảnh. Nét mặt biểu cảm là facial expression; tính từ “giàu biểu cảm” là expressive; “văn biểu cảm” trong nhà trường có thể dịch là expressive writing.
Icon biểu cảm có liên quan gì đến nghĩa của từ không?
Có. Các biểu tượng mặt cười, mặt khóc trên điện thoại được gọi là icon biểu cảm vì chúng làm đúng việc của chữ này: đưa cảm xúc ra ngoài thay cho lời nói. Nguồn gốc của chúng được kể ở bài chữ emoji và những hình nhỏ trên bàn phím.