Phép đối là biện pháp tu từ đặt hai (hoặc nhiều) vế câu, cụm từ, câu thơ cạnh nhau sao cho chúng cân xứng về số tiếng, về cấu trúc, còn ý nghĩa thì hoặc tương phản, hoặc bổ sung cho nhau. Học sinh thường gặp nó dưới tên biện pháp tu từ đối, trong tục ngữ, trong cặp thực và cặp luận của thơ Đường luật, trong câu đối ngày Tết. Nó làm lời văn có nhịp và dễ nhớ.
| Khái niệm | Sắp xếp các vế ngôn ngữ ở vị trí cân xứng, tạo hiệu quả tương đồng hoặc tương phản |
| Thuộc | Biện pháp tu từ cú pháp (tu từ về cấu trúc câu) |
| Dấu hiệu nhận biết | Hai vế bằng số tiếng, cùng cấu trúc, từ ở vị trí tương ứng cùng từ loại, nghĩa đặt đối diện nhau |
| Hay gặp ở | Tục ngữ, câu đối, thơ Đường luật, phú, văn chính luận trung đại |

Phép đối hiểu thế nào?
Sách Ngữ văn 10 (bài thực hành phép điệp và phép đối) mô tả phép đối là cách xếp từ ngữ, cụm từ hoặc câu vào những vị trí cân xứng nhau, để chúng gây ra hiệu quả giống nhau hoặc trái ngược nhau, từ đó tạo vẻ hài hòa và diễn tả trọn một nội dung. Hiểu gọn: phép đối là “xếp thành đôi”. Hai vế đứng cạnh nhau như hai bên cán cân; người đọc nhìn bên này sẽ tự liếc sang bên kia để so.
Chữ đối (對) trong Hán Việt vốn có nghĩa là đứng trước mặt nhau, thành cặp với nhau, như trong đối diện, đối đáp. Phép đối giữ đúng hình ảnh ấy: hai vế mặt đối mặt. Nhưng cân xứng chỉ là cái vỏ. Thứ khiến phép đối thành biện pháp tu từ là phần nghĩa bên trong: hai vế phải “nói chuyện” với nhau, hoặc soi chiếu sự trái ngược, hoặc cộng thêm cho nhau một ý.
Ba dấu hiệu nhận ra hai vế đối nhau
Khi gặp một câu nghi là có phép đối, hãy cắt nó làm hai rồi đặt chồng lên nhau, kiểm tra lần lượt:
- Cân về lượng. Hai vế có số tiếng bằng hoặc gần bằng nhau. “Chim có tổ / người có tông”: ba tiếng đối ba tiếng.
- Cân về cấu trúc và từ loại. Từ đứng ở vị trí tương ứng thường cùng từ loại: danh từ đối danh từ (chim / người), động từ đối động từ, tính từ đối tính từ. Trong thơ luật còn xét cả thanh: tiếng bằng đối tiếng trắc (tổ thanh trắc, tông thanh bằng).
- Đặt nghĩa vào thế so sánh. Hai vế phải có quan hệ nghĩa: hoặc trái ngược (đen / sáng, dại / khôn), hoặc cùng chiều để bổ sung (nhớ nước / thương nhà).
Thiếu điều thứ ba thì đó chỉ là câu có nhịp đều. Ví dụ “Hôm nay trời nắng, ngày mai trời mưa” cân về hình thức, nhưng nếu người nói chỉ báo thời tiết, chẳng ai coi đó là biện pháp tu từ.
Tiểu đối, đối câu; tương phản và tương đồng
Có hai cách chia hay dùng ở trường, một theo phạm vi, một theo nghĩa.
| Cách chia | Kiểu | Đặc điểm | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Theo phạm vi | Tiểu đối | Hai vế đối nhau ngay trong một câu, một dòng thơ | Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang |
| Theo phạm vi | Đối câu (đối giữa hai câu) | Câu này đối với câu kia, như cặp thực, cặp luận của thơ thất ngôn bát cú, hai vế câu đối | Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao |
| Theo nghĩa | Đối tương phản | Hai vế trái nghĩa, làm nổi sự khác biệt | Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng |
| Theo nghĩa | Đối tương đồng | Hai vế cùng chiều, bổ sung ý cho nhau | Nhớ nước đau lòng… / Thương nhà mỏi miệng… |
Một số tài liệu còn tách riêng đối thanh (bằng đối trắc), đối từ loại, đối nghĩa. Thực ra ba thứ này thường cùng có mặt trong một cặp đối chuẩn; chúng là ba “lớp” để kiểm, hơn là ba kiểu tách rời.
Đối trong tục ngữ, thơ Đường luật và câu đối Tết
Trong tục ngữ
Tục ngữ ngắn mà nhớ lâu, một phần nhờ đối. Đói cho sạch, rách cho thơm: đói đối rách (cảnh nghèo), sạch đối thơm (nhân cách giữ gìn). Hai vế cùng chiều, cộng lại thành một lời răn: nghèo đến đâu cũng giữ phẩm giá. Câu Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng lại đối tương phản: mực và đèn, đen và sáng, nhấn mạnh môi trường sống ảnh hưởng tới con người.
Trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Thể thơ này bắt buộc hai cặp câu giữa phải đối: cặp thực (câu 3–4) và cặp luận (câu 5–6). Cặp thực trong Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Lom khom đối lác đác (hai từ láy), dưới núi đối bên sông, tiều vài chú đối chợ mấy nhà. Hai câu đặt người và cảnh cạnh nhau, đều nhỏ, đều thưa, làm cho đèo Ngang càng mênh mông, quạnh vắng. Bài phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang đi sâu thêm vào cảnh và tình của bài.
Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng phép đối để nói một quan niệm sống:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Ta đối người, dại đối khôn, nơi vắng vẻ đối chốn lao xao. Sự tương phản này có ý ngược: cái “dại” của nhà thơ thật ra là khôn, vì tránh được vòng danh lợi. Đọc trọn bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ thấy hai câu này là trục của cả bài.
Trong câu đối
Câu đối là thể loại dựng hẳn trên phép đối: hai vế bằng số chữ, đối nhau từng chữ, từng thanh. Câu đối Tết quen thuộc Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh là ví dụ dễ nhớ: thịt mỡ đối cây nêu, dưa hành đối tràng pháo, câu đối đỏ đối bánh chưng xanh, đỏ đối xanh.
Đối khác điệp ngữ và liệt kê ở đâu?
Ba biện pháp này hay xuất hiện chung trong một câu nên dễ lẫn.
| Biện pháp | Cái lặp hoặc cái xếp | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phép đối | Hai vế cân nhau, đặt đối diện để so sánh nghĩa | Ta dại… / Người khôn… |
| Điệp ngữ | Lặp lại cùng một từ, một cụm để nhấn mạnh | Một mai, một cuốc, một cần câu |
| Liệt kê | Kể nối tiếp nhiều sự vật cùng loại | mai, cuốc, cần câu |
Câu “Ta dại, ta tìm…” có cả điệp (ta… ta, người… người) lẫn đối, nhưng hiệu quả chính là đối. Khi làm bài, hãy gọi tên biện pháp nổi bật nhất trước. Ôn lại phép điệp ở bài điệp ngữ và các dạng điệp thường gặp, hoặc xem toàn cảnh ở bảng các phép tu từ và cách nêu tác dụng.
Năm câu luyện nhận diện phép đối
Câu 1: Câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” dùng kiểu đối nào? Nêu tác dụng.
Đáp án: Đối câu (hai vế đối nhau), thuộc đối tương phản: mực đối đèn, đen đối sáng. Nhờ hai vế đặt đối diện, người nghe thấy ngay môi trường xấu và môi trường tốt dẫn tới hai kết quả ngược nhau; lời khuyên chọn bạn mà chơi hiện ra rất rõ; câu ngắn, cân, nên dễ thuộc.
Câu 2: Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu” có dùng phép đối không?
Đáp án: Không. Câu thơ dùng điệp từ một kết hợp liệt kê các dụng cụ lao động. Các vế không đặt đối diện để so nghĩa, nên không phải phép đối. Đây là chỗ học sinh dễ gọi nhầm vì nhịp câu rất đều.
Câu 3: Chỉ ra phép đối trong câu “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” (Truyện Kiều) và cho biết thuộc kiểu nào.
Đáp án: Tiểu đối trong một dòng thơ: mây đối tuyết, thua đối nhường, nước tóc đối màu da. Hai vế cùng chiều (đối tương đồng), cùng nói thiên nhiên phải chịu kém trước vẻ đẹp của Kiều, báo trước số phận không êm ả.
Câu 4: Phân tích phép đối trong cặp luận “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” (Qua Đèo Ngang).
Đáp án: Nhớ nước đối thương nhà, đau lòng đối mỏi miệng, con quốc quốc đối cái gia gia. Đây là đối tương đồng: hai câu cùng chiều, mượn tiếng chim để nói nỗi nhớ nước, thương nhà da diết của người lữ khách. Phép đối kết hợp với chơi chữ đồng âm (quốc là nước, gia là nhà) làm tâm trạng thêm sâu.
Câu 5: Viết một câu có phép đối về chuyện học.
Đáp án tham khảo: “Học đi đôi với hành, đọc đi cùng với nghĩ.” Hai vế bằng số tiếng, cùng cấu trúc “A đi … với B”, học đối đọc, hành đối nghĩ, ý bổ sung cho nhau. Có thể viết theo kiểu tương phản: “Chăm học thì đường rộng, lười học thì lối hẹp.”
Phép đối qua những câu học sinh hay tra
Biện pháp tu từ đối là gì?
Là tên gọi khác của phép đối: xếp các vế ngôn ngữ cân xứng cạnh nhau để chúng soi chiếu, tương phản hoặc bổ sung nghĩa cho nhau.
Phép đối có tác dụng gì?
Tạo nhịp cân, hài hòa cho câu; làm nổi bật ý qua sự so sánh giữa hai vế; giúp câu dễ nhớ, dễ thuộc. Khi nêu tác dụng trong bài đọc hiểu, nhớ gắn với nội dung cụ thể của câu, không chỉ nói chung chung.
Tiểu đối là gì?
Là phép đối diễn ra ngay trong nội bộ một câu hay một dòng thơ, ví dụ “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”. Khác với đối câu, nơi câu này đối với câu kia.
Phép đối trong thơ Đường luật nằm ở đâu?
Trong thơ thất ngôn bát cú, phép đối bắt buộc ở cặp thực (câu 3–4) và cặp luận (câu 5–6). Các câu khác có thể đối hoặc không.