Càn khôn là trời đất, rộng ra là cả vũ trụ. Đây là từ Hán Việt cũ, gốc từ hai quẻ Càn và Khôn của Kinh Dịch: Càn tượng trời, Khôn tượng đất. Ngày thường ít ai nói “càn khôn”, nhưng từ này vẫn sống trong văn chương cổ, trong thành ngữ “xoay chuyển càn khôn” và trong tên võ công Càn Khôn Đại Na Di của truyện Kim Dung.
| Nghĩa ngắn | Trời và đất; vũ trụ |
| Gốc từ | Hán Việt 乾坤, tên hai quẻ đầu của Kinh Dịch |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Từ cũ, văn chương, trang trọng |

Càn khôn là trời hay là đất?
Là cả hai. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi càn khôn là danh từ, thuộc lớp từ cũ dùng trong văn chương, nghĩa là trời đất, vũ trụ, và cho một từ đồng nghĩa là kiền khôn. Chữ Càn đứng trước chỉ trời, chữ Khôn đứng sau chỉ đất; gộp lại thành một tên gọi cho toàn bộ thế giới bao quanh con người.
Vì là từ chỉ cái lớn nhất có thể nghĩ tới, càn khôn hay đi cùng những động từ mạnh. “Xoay chuyển càn khôn” là làm thay đổi cả cục diện, kiểu việc mà chỉ người có tài lớn hoặc thời thế lớn mới làm nổi. Nói một người “có tài xoay chuyển càn khôn” là khen hết lời, đôi khi hơi phóng đại.
Hai quẻ đứng đầu Kinh Dịch
Chữ càn (乾) trong từ điển Thiều Chửu được giảng là quẻ đầu của tám quẻ, mang cái tượng lớn nhất như trời, như vua. Cũng chữ ấy còn một âm nữa là can, nghĩa là khô, như trong “can sài” (củi khô). Nhiều sách cổ đọc chữ này là “kiền”, nên có cả “kiền khôn” lẫn “càn khôn”.
Chữ khôn (坤) là quẻ ví như đất. Vì đất được xem là mềm, thuận và nuôi dưỡng, chữ này còn được dùng cho phía nữ: ngày trước “khôn trạch” là nhà gái, còn nhà trai là “kiền trạch”, dùng chính chữ càn.
Trong sáu mươi tư quẻ Kinh Dịch theo thứ tự quen dùng, Càn là quẻ thứ nhất, Khôn là quẻ thứ hai. Càn gồm toàn vạch liền (dương), Khôn gồm toàn vạch đứt (âm). Hai quẻ đứng đầu như hai cột trụ: một bên mạnh mẽ, vận hành không nghỉ; một bên rộng lượng, chở đỡ muôn vật. Từ cặp này người xưa nói ra trời và đất, cha và mẹ, dương và âm.
Lưu ý một chuyện dễ nhầm: “khôn” trong càn khôn không dính gì tới “khôn” trong khôn ngoan, và “càn” ở đây không phải “càn” trong làm càn, càn quấy. Đó là những từ thuần Việt trùng âm, khác nghĩa hoàn toàn.
Càn khôn trong Đại cáo bình Ngô
Học sinh lớp 10 gặp từ này trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Đoạn kết có câu chữ Hán mà phiên âm là “Càn khôn ký bĩ nhi phục thái”. Bĩ và Thái cũng là tên hai quẻ Dịch: Bĩ là bế tắc, Thái là thông suốt. Cả câu mượn vận trời đất để nói vận nước: qua thời u ám, nay lại tới lúc hanh thông, như ngày tháng tối rồi lại sáng.
Trước đó, ở đoạn kể tội giặc, tác giả cũng nhắc càn khôn để nói tội ác của chúng làm trời đất như sắp tắt thở. Một từ, hai lần xuất hiện, hai sắc thái: lúc đầu là trời đất ngột ngạt, lúc cuối là trời đất trở lại hanh thông. Ai cần đọc lại toàn văn bản và câu hỏi SGK có thể mở bài soạn áng cáo của Nguyễn Trãi trong sách Cánh diều; còn một chữ Hán Việt khác nằm ngay đoạn mở đầu áng cáo được giải nghĩa ở bài văn hiến và nền văn hóa lâu đời.
Ở văn hóa đại chúng, người Việt biết từ này nhiều nhờ Ỷ Thiên Đồ Long ký của Kim Dung: Càn Khôn Đại Na Di là môn võ công của Minh giáo mà Trương Vô Kỵ luyện được. “Đại na di” là dời chuyển lớn, nên tên gọi ấy gợi ý một sức mạnh có thể xê dịch cả trời đất.
Những từ cùng nhóm với càn khôn
| Từ | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Kiền khôn | Trời đất (cách đọc khác) | Rất cũ, gần như chỉ còn trong sách |
| Thiên địa | Trời đất | Hán Việt, trang trọng |
| Trời đất | Trời và đất; cũng là tiếng kêu than | Thuần Việt, dùng hằng ngày |
| Vũ trụ, hoàn vũ | Toàn bộ không gian và vạn vật | Trung tính, dùng cả trong khoa học |
| Âm dương | Hai mặt đối lập mà nương nhau | Triết học phương Đông |
Càn khôn không có từ trái nghĩa thật sự, vì nó đã gom cả hai cực. Khi viết văn hôm nay, dùng càn khôn sẽ tạo không khí cổ kính; dùng ở câu chuyện thường ngày thì dễ thành khoa trương. Một câu vừa phải: Đứng trên đỉnh Fansipan lúc bình minh, cậu bỗng thấy mình bé lại trước càn khôn rộng lớn.
Đọc truyện Kim Dung, ta còn gặp những từ Hán Việt của giới luyện công như tẩu hỏa nhập ma nghĩa gốc khi nội lực đi sai đường.
Đọc chữ càn khôn cho trọn
Càn khôn nghĩa là gì trong Kinh Dịch?
Là tên hai quẻ đứng đầu: Càn (trời, dương, mạnh) và Khôn (đất, âm, thuận). Từ hai quẻ này, càn khôn được dùng để chỉ trời đất và cả vũ trụ.
Xoay chuyển càn khôn là gì?
Là làm thay đổi cục diện lớn, đảo ngược tình thế tưởng như không thể đổi. Cụm này thường dùng để khen tài năng hoặc nói về những biến cố lớn của thời cuộc.
Càn Khôn Đại Na Di là gì?
Là tên môn võ công của Minh giáo trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký của Kim Dung, nhân vật chính Trương Vô Kỵ luyện được. Tên gọi có nghĩa là dời chuyển cả trời đất.
Viết càn khôn hay kiền khôn?
Cả hai đều có trong từ điển, cùng chỉ chữ 乾坤. Hiện nay càn khôn phổ biến hơn nhiều; kiền khôn chủ yếu gặp trong sách cũ.