Nhận định là đưa ra ý kiến mang tính đánh giá, kết luận hoặc dự đoán về một người, một sự việc, một tình hình; danh từ “một nhận định” là chính ý kiến ấy. Trong môn Ngữ văn, nhận định văn học là lời đánh giá của nhà văn, nhà phê bình hay người đọc về tác giả, tác phẩm hoặc về bản chất văn chương, thường xuất hiện trong đề nghị luận dưới dạng “Có ý kiến cho rằng…”.
| Khái niệm | Ý kiến có tính đánh giá, kết luận, dự đoán về một đối tượng |
| Từ loại | Động từ (nhận định tình hình) và danh từ (một nhận định sắc sảo) |
| Chữ Hán | 認定: nhận là nhận biết, định là xác định, chốt lại |
| Dấu hiệu nhận biết | Có đối tượng được bàn và một phán đoán có thể đúng hoặc sai, cần chứng minh |
| Gặp ở | Đề nghị luận văn học, đọc hiểu, bài báo, bản tin phân tích |

Nhận định: nhìn ra rồi chốt lại
Tách hai chữ Hán ra sẽ thấy cách từ này vận hành. Nhận là nhìn ra, nắm được; định là xác định, đặt thành kết luận. Người nhận định phải đi đủ hai bước: quan sát, cân nhắc, rồi dám nói ra một kết luận. Chỉ quan sát mà không kết luận thì mới là mô tả; kết luận mà không dựa trên quan sát thì thành phán bừa.
Mục từ này trong từ điển tiếng Việt (bản Wiktionary dẫn lại) giải thích nhận định là đưa ra ý kiến có tính chất đánh giá, kết luận, dự đoán về một đối tượng hay một tình hình nào đó. Ví dụ của từ điển cũng rất đời: nhận định tình hình; một nhận định thiếu cơ sở thực tế. Câu thứ hai cho thấy nhận định có thể sai, và vì vậy luôn cần căn cứ.
Sang môn Ngữ văn, đối tượng của nhận định thu hẹp lại thành các hiện tượng văn học: một nhà thơ, một bài thơ, một trào lưu, một thể loại, hay chính câu hỏi “văn chương để làm gì”. Những ý kiến như thế có thể của nhà văn tự nói về nghề, của nhà phê bình, của thầy cô ra đề, hay của chính học sinh khi viết bài.
Nhận định khác nhận xét, quan điểm và luận điểm thế nào?
Bốn từ này hay bị dùng lẫn trong bài văn. Bảng dưới tách chúng theo chỗ dùng.
| Từ | Bản chất | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nhận định | Ý kiến đánh giá, kết luận có tính khái quát, có thể đúng hoặc sai | “Truyện ngắn này viết về cái đói nhưng thực chất là viết về nhân phẩm.” |
| Nhận xét | Ý kiến về một điểm cụ thể, thường ngắn và gần với quan sát | “Đoạn văn dùng nhiều câu ngắn.” |
| Quan điểm | Cách nhìn, chỗ đứng của một người để xem xét mọi vấn đề | “Tôi đứng về phía người đọc phổ thông.” |
| Luận điểm | Ý kiến chính mà người viết đặt ra để chứng minh trong bài nghị luận | Luận điểm 1 của một bài văn phân tích |
| Sự thật | Thông tin kiểm chứng được, không mang tính đánh giá | “Bài thơ gồm bốn khổ.” |
Quan hệ giữa chúng khá rõ: một người có quan điểm riêng khi nhìn vấn đề, từ đó đưa ra nhận định; khi viết bài, nhận định ấy được tách thành các luận điểm và đỡ bằng lí lẽ, dẫn chứng. Còn ranh giới giữa nhận định và sự thật chính là ranh giới giữa chủ quan và khách quan, được bàn kĩ trong bài khách quan và chủ quan khác nhau ra sao.
Nhận định chỉ là một trong vài từ thay được cho đánh giá; thẩm định, bình phẩm, định giá được so sắc thái ở những từ đứng thay đánh giá.
Ba dấu hiệu của một câu nhận định
- Có đối tượng được bàn. Đó có thể là một tác giả (Nam Cao), một tác phẩm (Truyện Kiều), một thể loại (thơ trữ tình) hay một vấn đề chung (văn chương và đời sống).
- Có phán đoán mang tính đánh giá hoặc khái quát. Câu thường chứa từ ngữ thể hiện thái độ, mức độ: là, chính là, không phải… mà là…, sâu sắc, hời hợt, đặc sắc nhất. Câu “Bài thơ ra đời năm 1942” chỉ là thông tin; câu “Bài thơ là tiếng lòng của cả một thế hệ” mới là nhận định.
- Có thể tranh luận. Người khác có quyền đồng ý một phần, phản bác, bổ sung. Chính vì vậy, đề văn hay yêu cầu “bàn luận” hoặc “làm sáng tỏ” một nhận định.
Trong đề thi, nhận định thường được đặt trong ngoặc kép, kèm tên người nói hoặc cụm “Có ý kiến cho rằng”, “Bàn về…, có người viết”. Khi gặp dạng này, bước đầu tiên là giải thích các từ khóa trong câu, rồi mới xét nhận định đúng tới đâu, cuối cùng chứng minh bằng tác phẩm. Phần chứng minh sống nhờ dẫn chứng chọn đúng và đủ, và nhận định gốc thường được tách thành các luận điểm cùng luận cứ đi kèm.
Những nhận định văn học học sinh hay gặp
Nam Cao nói về nghề văn trong Đời thừa
Nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa (1943) mang nhiều suy nghĩ của chính Nam Cao về nghề viết. Câu nổi tiếng nhất là: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho.” Đối tượng ở đây là văn chương nói chung; phán đoán là văn chương đòi sự sáng tạo, không chấp nhận lối viết theo khuôn. Đề văn hay lấy câu này để yêu cầu học sinh bàn về tính sáng tạo của nhà văn, rồi chứng minh bằng một tác phẩm đã học.
Hoài Thanh và tinh thần Thơ mới
Trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đưa ra một nhận định bao quát cả phong trào: điều cốt lõi làm nên Thơ mới là sự xuất hiện của cái tôi cá nhân, khác với cái ta chung của thơ cũ. Đây là kiểu nhận định khái quát về một trào lưu, cần nhiều tác giả để chứng minh. Bài soạn Một thời đại trong thi ca theo sách mới có đủ các câu hỏi về lập luận của ông.
Nhận định về một tác giả cụ thể
Khi viết về từng nhà thơ, Hoài Thanh cũng có những câu chốt ngắn trở thành “nhãn” theo người đó suốt nhiều năm, chẳng hạn cách ông xếp Xuân Diệu là người mới nhất trong các nhà thơ mới. Những lời đánh giá như vậy được tập hợp trong bài Xuân Diệu được mệnh danh là gì. Kiểu nhận định này dễ dùng làm mở bài, nhưng khi dẫn, cần nêu đúng người nói và tác phẩm chứa câu đó.
Luyện tập nhận diện và xử lý nhận định
Câu 1: Trong các câu sau, câu nào là nhận định, câu nào chỉ là thông tin? (a) Truyện ngắn Lão Hạc được in trong sách Ngữ văn. (b) Lão Hạc là một trong những truyện ngắn cảm động nhất về người nông dân. (c) Nhân vật ông giáo là người kể chuyện.
Đáp án: Câu (b) là nhận định vì có phán đoán đánh giá (“cảm động nhất”) và người khác có thể tranh luận. Câu (a) và (c) là thông tin kiểm chứng được, không bày tỏ đánh giá.
Câu 2: Chỉ ra đối tượng và nội dung đánh giá trong câu của Nam Cao: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho.”
Đáp án: Đối tượng là văn chương và người cầm bút. Nội dung đánh giá: văn chương không chấp nhận người viết chỉ khéo bắt chước, làm theo khuôn mẫu có sẵn; ngầm ý đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo cái riêng.
Câu 3: “Một nhận định thiếu cơ sở thực tế” nghĩa là gì? Vì sao một nhận định cần cơ sở?
Đáp án: Đó là ý kiến đánh giá không dựa trên sự việc, số liệu hay dẫn chứng có thật. Nhận định là phán đoán có thể đúng hoặc sai, nên muốn người khác tin thì phải có căn cứ; thiếu căn cứ, nhận định chỉ còn là cảm tính.
Câu 4: Viết một câu nhận định về nhân vật em yêu thích trong một truyện đã học, rồi nêu một dẫn chứng đỡ cho câu đó.
Đáp án tham khảo: “Dế Mèn trong Bài học đường đời đầu tiên là nhân vật biết lớn lên nhờ chính lỗi lầm của mình.” Dẫn chứng: sau cái chết của Dế Choắt, Mèn đứng lặng hồi lâu và rút ra bài học về thói hung hăng, hống hách. Câu nhận định có đối tượng (Dế Mèn), có phán đoán (biết lớn lên nhờ lỗi lầm) và có thể chứng minh.
Nhận định trong đề văn và trong đời sống
Nhận định là gì trong văn học?
Trong văn học, nhận định là ý kiến đánh giá về tác giả, tác phẩm, trào lưu hoặc về bản chất của văn chương. Nó có thể của nhà văn, nhà phê bình hay của người đọc bình thường, và thường là điểm xuất phát của một bài nghị luận văn học.
Nhận định văn học là gì, có phải chỉ của nhà phê bình?
Không. Nhận định văn học là bất kỳ lời đánh giá có căn cứ nào về hiện tượng văn học. Học sinh viết “Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển mà vẫn hiện đại” cũng là đưa ra một nhận định, chỉ cần chứng minh được.
Nhận định nghĩa là gì khi đứng ngoài môn văn?
Ngoài môn văn, nhận định nghĩa là đánh giá hoặc dự báo một tình hình: chuyên gia nhận định giá cả, giáo viên nhận định khả năng của lớp. Khác với tin tức, nhận định luôn kèm phần chủ quan của người nói.
Một nhận định có bắt buộc phải đúng không?
Không bắt buộc. Nhận định có thể đúng, đúng một phần hoặc sai. Vì thế nhiều đề văn yêu cầu “bàn luận” thay vì chỉ “chứng minh”: người viết được quyền đồng tình, bổ sung hay phản bác, miễn là có lí lẽ và dẫn chứng.