Hàn Mặc Tử được mệnh danh là gì là câu hỏi có nhiều cách trả lời, bởi nhà thơ được gọi bằng những tên khác nhau, gắn với từng chặng thơ và cuộc đời ngắn ngủi của ông. Tìm hiểu kỹ sự nghiệp sáng tác và những thăng trầm trong đời ông, ta mới thấy vì sao những cách gọi ấy ra đời.
Ai yêu giọng thơ này có thể đọc tiếp bài thơ Gái quê của Hàn Mặc Tử.
Hàn Mặc Tử được mệnh danh là gì?
Cách gọi phổ biến nhất dành cho Hàn Mặc Tử là “nhà thơ điên”. Danh xưng này gắn với tập Thơ Điên (1938, về sau đổi tên là Đau thương) và với những bài thơ đầy trăng, hồn, máu ở phần cuối tập; không có ai cụ thể đặt ra nó.
Một hình ảnh cũng thường được nhắc là ví Hàn Mặc Tử với ngôi sao chổi. Câu ví này của Chế Lan Viên, in trong lời tựa Tuyển tập Hàn Mặc Tử (NXB Văn học, 1987): “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.
Có nguồn rõ ràng hơn là lời Chế Lan Viên mà Hoài Thanh dẫn trong chương viết về Hàn Mặc Tử của Thi nhân Việt Nam (1942): “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử.”

Những lời ấy cho thấy ngay từ thời Thơ mới, người cùng thời đã nhận ra Hàn Mặc Tử là một hiện tượng khác thường, không giống bất kỳ ai.
Xem thêm: Tuyển tập những bài thơ của Hàn Mặc Tử để hiểu rõ hơn những cách gọi mà người đời dành cho ông.
Hàn Mặc Tử nổi tiếng về cái gì?
Hàn Mặc Tử được biết đến là người khởi xướng Trường thơ Loạn ở Bình Định, khoảng những năm 1936 – 1937. Nòng cốt của trường thơ này gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, sau có thêm Bích Khê.
Với người yêu thơ, ông là “nhà thơ điên” với những liên tưởng kỳ lạ, những hình ảnh ma quái, nhưng cũng là tác giả của những vần thơ quê trong trẻo như tập Gái quê (1936), bài Mùa xuân chín. Ông mang sự lãng mạn cùng những cảm giác kỳ ảo vào từng câu chữ khiến người đọc phải suy tư.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Đây thôn Vĩ Dạ, in trong tập Thơ Điên (1938), bài thơ thường được nhắc cùng tên Hoàng Cúc, người con gái ở Vĩ Dạ, Huế. Bài thơ nay được học trong sách Ngữ văn 11 Cánh diều và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo.
Người ta còn nhớ đến Hàn Mặc Tử vì căn bệnh phong đã hành hạ ông những năm cuối đời. Ông vào trại phong Quy Hòa (Quy Nhơn) ngày 20/9/1940 và mất ở đó ngày 11/11/1940, khi vừa bước sang tuổi hai mươi tám.
Xem thêm: Tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử giúp bạn có cái nhìn chi tiết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của ông.
Lấy bút danh là Hàn Mặc Tử nhà thơ có ngụ ý gì?
Trước đó, ông từng ký Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh. Năm 1936, ông lấy hiệu Hàn Mạc Tử, chữ Mạc (幕) là bức rèm, nên tên có nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh. Theo giai thoại do Quách Tấn kể, sau đó ông vạch thêm “vành trăng non” lên chữ Mạc để thành Mặc. Hàn Mặc (翰墨) nghĩa là bút và mực, nghĩa bóng là văn chương; Hàn Mặc Tử vì thế là người của bút mực, người làm văn chương. Đến nay cả hai cách viết Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử vẫn được dùng song song.
Xem thêm: Phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử là gì? Tìm hiểu quan điểm và đặc điểm văn chương của nhà thơ.
Lời kết
Hàn Mặc Tử được mệnh danh là gì? Ông thường được gọi là “nhà thơ điên”, theo tên tập Thơ Điên, và được ví như một ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông để lại cho phong trào Thơ mới một giọng thơ độc đáo, khó ai lẫn được.