Niêm luật là cách gọi chung các quy tắc âm luật mà một bài thơ Đường luật phải giữ: luật bằng trắc trong từng câu, phép niêm nối các câu với nhau, cùng với cách gieo vần và phép đối. Muốn biết một bài thất ngôn bát cú có “đúng luật” hay không, người ta soi bốn thứ ấy, và chìa khóa nằm ở các tiếng thứ 2, 4, 6 của mỗi câu.
| Khái niệm | Hệ thống quy tắc về thanh điệu, liên kết câu, vần và đối của thơ Đường luật |
| Gồm | Luật (bằng trắc trong câu), niêm (giữa các câu), vần, đối |
| Câu cần nhớ | “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” |
| Dấu hiệu nhận biết | Tiếng 2, 4, 6 xen kẽ bằng – trắc; vần bằng ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8; câu 3–4, 5–6 đối nhau |
| Áp dụng cho | Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn luật thi |

Niêm luật gồm những gì?
Chữ niêm có nghĩa gốc là dán, dính; luật là phép tắc. Nói cho chặt thì “luật” là quy định bằng trắc bên trong một câu, còn “niêm” là quy định các câu dính với nhau thế nào. Nhưng trong giờ Văn, “niêm luật” thường được dùng rộng để chỉ cả bộ quy tắc của thơ Đường luật, kể cả vần và đối. Câu hỏi đọc hiểu ở lớp 10 cũng thường bắt nhận xét cùng lúc bố cục, nhịp và niêm, luật, vần đối trong thơ Đường luật.
Nền của mọi quy tắc này là sự phân chia thanh điệu tiếng Việt thành hai nhóm. Thanh bằng gồm thanh ngang (không dấu) và thanh huyền. Thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng. Ai còn lẫn hai nhóm này nên ôn lại bài thanh điệu tiếng Việt và hai nhóm bằng, trắc trước khi đi tiếp.
Luật bằng trắc: chữ 2, 4, 6 quyết định
Lí tưởng nhất là từng chữ của câu trên đối thanh với chữ tương ứng của câu dưới, nhưng làm vậy quá khó. Người xưa nới ra bằng câu “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”: các chữ thứ 1, 3, 5 không bắt buộc, còn các chữ thứ 2, 4, 6 phải rõ ràng theo luật. Trong một câu, chữ 2 và chữ 6 cùng thanh, chữ 4 khác thanh với hai chữ ấy: B – T – B hoặc T – B – T.
Bài thơ theo luật bằng hay luật trắc được xác định bằng chữ thứ 2 của câu đầu: chữ ấy thanh bằng thì là luật bằng, thanh trắc thì là luật trắc. Dưới đây là mô hình thất ngôn bát cú luật bằng, vần bằng (chỉ ghi các chữ 2, 4, 6 và chữ cuối câu):
| Câu | Chữ 2 | Chữ 4 | Chữ 6 | Chữ 7 |
|---|---|---|---|---|
| 1 | B | T | B | B (vần) |
| 2 | T | B | T | B (vần) |
| 3 | T | B | T | T |
| 4 | B | T | B | B (vần) |
| 5 | B | T | B | T |
| 6 | T | B | T | B (vần) |
| 7 | T | B | T | T |
| 8 | B | T | B | B (vần) |
Bài luật trắc thì đảo B thành T và ngược lại ở các chữ 2, 4, 6; chữ cuối các câu gieo vần vẫn là thanh bằng. Câu nào sai vị trí bằng trắc thì gọi là thất luật.
Niêm: cặp câu nào phải dính nhau?
Hai câu niêm với nhau khi chữ thứ 2 của chúng cùng thanh (bằng với bằng, trắc với trắc); kéo theo đó, chữ 4 và chữ 6 cũng trùng thanh. Trong bài bát cú, các cặp niêm cố định là:
- câu 1 với câu 8;
- câu 2 với câu 3;
- câu 4 với câu 5;
- câu 6 với câu 7.
Nhìn lại bảng trên sẽ thấy ngay: câu 2 và 3 đều T – B – T, câu 4 và 5 đều B – T – B. Với bài tứ tuyệt bốn câu, câu 2 niêm với câu 3, câu 1 niêm với câu 4. Phá cặp nào thì bài bị coi là thất niêm. Nhờ niêm, giọng thơ cứ hai câu lại đổi chiều một lần, đọc cả bài nghe như sóng lên xuống đều đặn.
Vần và đối trong bài bát cú
Vần. Bài thất ngôn bát cú chuẩn gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8, phần lớn là vần bằng, và thường một vần xuyên suốt (độc vận). Câu 1 có khi không vần, khi đó bài chỉ còn bốn chữ vần. Vần lệch hẳn thì gọi là thất vận; vần gần giống nhau được chấp nhận và gọi là vần thông.
Đối. Hai câu thực (3–4) và hai câu luận (5–6) phải đối nhau: đối thanh (bằng đối trắc ở các vị trí quan trọng), đối từ loại (danh từ đối danh từ, động từ đối động từ) và đối ý (tương đồng hoặc tương phản). Không đối thì bị chê thất đối. Các kiểu đối chi tiết có ở bài tiểu đối, đối câu và tác dụng của phép đối.
Bốn quy tắc đi cùng bố cục bốn phần đề – thực – luận – kết, mỗi phần hai câu. Bài tuyển chọn thơ thất ngôn bát cú có thêm nhiều bài để luyện soi.
Soi Qua Đèo Ngang từng chữ
Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan là ví dụ được dùng nhiều nhất, vì đúng luật gần như tuyệt đối. Bảng dưới ghi thanh của các chữ 2, 4, 6:
| Câu | Câu thơ | Chữ 2 – 4 – 6 |
|---|---|---|
| 1 | Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà, | tới (T) – Ngang (B) – xế (T) |
| 2 | Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. | cây (B) – đá (T) – chen (B) |
| 3 | Lom khom dưới núi, tiều vài chú, | khom (B) – núi (T) – vài (B) |
| 4 | Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. | đác (T) – sông (B) – mấy (T) |
| 5 | Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, | nước (T) – lòng (B) – quốc (T) |
| 6 | Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. | nhà (B) – miệng (T) – gia (B) |
| 7 | Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, | chân (B) – lại (T) – non (B) |
| 8 | Một mảnh tình riêng, ta với ta. | mảnh (T) – riêng (B) – với (T) |
- Luật: chữ “tới” ở câu 1 là thanh trắc, nên bài theo luật trắc. Câu nào cũng giữ đúng thế T – B – T hoặc B – T – B.
- Niêm: câu 1 và 8 cùng T – B – T; câu 2 và 3 cùng B – T – B; câu 4 và 5 cùng T – B – T; câu 6 và 7 cùng B – T – B.
- Vần: “tà – hoa – nhà – gia – ta”, một vần “a” thanh bằng; câu 3, 5, 7 kết bằng chữ trắc (chú, quốc, nước).
- Đối: “Lom khom dưới núi” đối “Lác đác bên sông”; “Nhớ nước đau lòng” đối “Thương nhà mỏi miệng”, “con quốc quốc” đối “cái gia gia”.
Lưu ý dị bản: câu 4 có bản chép “rợ mấy nhà” thay cho “chợ mấy nhà”; sách giáo khoa dùng “chợ”. Chữ thứ 1, 3, 5 thì tự do: “Bước” ở câu 1 là thanh trắc, “Cỏ” ở câu 2 cũng trắc, không ảnh hưởng gì. Phần phân tích nội dung có trong hướng dẫn soạn Qua Đèo Ngang.
Ba bước phát hiện thất niêm, thất luật
- Gạch chân chữ 2, 4, 6 của từng câu rồi ghi B hoặc T bên dưới. Chỉ cần nhớ: không dấu và dấu huyền là B, còn lại là T.
- Kiểm từng câu: chữ 2 và 6 phải cùng thanh, chữ 4 phải khác. Câu nào không thế là thất luật.
- Ghép cặp niêm 1–8, 2–3, 4–5, 6–7 và so chữ thứ 2. Cặp nào lệch là thất niêm. Sau đó mới nhìn sang vần cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 và phép đối ở hai cặp giữa.
Thơ Nôm Việt Nam đôi khi phá luật có chủ ý, nhất là ở các nhà thơ trào phúng. Khi gặp chỗ “sai”, hãy xem đó là lỗi hay là cách tác giả cố tình làm khác để tạo hiệu quả. Ngay cả khi giữ đúng khuôn, nhà thơ vẫn có thể làm câu chữ bớt khuôn sáo bằng khẩu ngữ đời thường, như câu “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” trong bài Thương vợ của Trần Tế Xương.
Luyện soi niêm, luật, vần, đối
Câu 1: Câu thơ “Quanh năm buôn bán ở non sông” có chữ thứ 2, 4, 6 mang thanh gì? Nếu là câu mở đầu, bài thơ theo luật bằng hay luật trắc?
Đáp án: Chữ 2 “năm” (B), chữ 4 “bán” (T), chữ 6 “non” (B): B – T – B, đúng luật. Chữ thứ 2 của câu đầu là thanh bằng nên bài theo luật bằng.
Câu 2: Trong bài bát cú, câu 5 phải niêm với câu nào? Nếu câu 4 có dạng B – T – B thì câu 5 phải có dạng gì?
Đáp án: Câu 5 niêm với câu 4. Vì vậy câu 5 cũng phải là B – T – B ở các chữ 2, 4, 6.
Câu 3: Bài thơ có chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 lần lượt là “sông, chồng, đông, công, không”. Nhận xét về vần.
Đáp án: Cả năm chữ cùng vần “ông”, đều thanh bằng (ngang hoặc huyền), gieo đúng vị trí. Bài theo lối độc vận, vần bằng, đúng quy định của thơ bát cú.
Câu 4: “Nhất tam ngũ bất luận” có nghĩa là chữ 1, 3, 5 muốn đặt thanh gì cũng được, đúng hay sai?
Đáp án: Về nguyên tắc là đúng: các chữ này không bị bắt buộc. Tuy vậy, người làm thơ kĩ vẫn chú ý chữ thứ 5 (và đôi khi chữ 3) để câu thơ không bị trúc trắc, như tránh ba chữ cuối cùng một thanh. Câu ấy là phép nới lỏng, không phải lời cho phép đặt bừa.
Niêm luật khi đọc thơ và khi tập làm thơ
Luật bằng trắc trong thơ là gì?
Đó là quy định về vị trí các tiếng thanh bằng và thanh trắc trong câu thơ. Ở thơ Đường luật, các chữ 2, 4, 6 phải xen kẽ bằng – trắc; ở thơ lục bát, chữ 2 bằng, chữ 4 trắc, chữ 6 bằng, và câu tám thêm chữ 8 bằng.
Niêm là gì trong thơ Đường luật?
Niêm là sự “dính” về thanh giữa hai câu thơ: hai câu niêm với nhau khi chữ thứ 2 cùng thanh. Bài bát cú có bốn cặp niêm cố định là 1–8, 2–3, 4–5, 6–7.
Thơ tứ tuyệt có phải theo niêm luật không?
Tứ tuyệt làm theo lối Đường luật thì phải giữ luật bằng trắc và niêm (câu 1 với 4, câu 2 với 3), vần ở cuối câu 1, 2, 4; đối không bắt buộc. Xem thêm ở bài thể thơ bốn câu tứ tuyệt.
Thơ lục bát có niêm luật không?
Lục bát không theo niêm luật của thơ Đường, nhưng có luật bằng trắc riêng ở các tiếng chẵn, và thường chữ 6, chữ 8 của câu tám cùng là thanh bằng nhưng khác nhau một ngang một huyền. Vần lục bát nối tiếng cuối câu sáu với tiếng thứ sáu câu tám.