Biện pháp nhân hóa là phép tu từ gọi, tả hoặc trò chuyện với con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng tự nhiên bằng những từ vốn dành cho con người, khiến thế giới vô tri bỗng có tính nết, cảm xúc như người. Hỏi gọn “nhân hóa là gì” hay “phép nhân hóa là gì” thì đều là cùng một chuyện: cho vật mượn tính người để câu văn sống động và gần gũi hơn.
| Khái niệm | Phép tu từ dùng từ ngữ chỉ người để gọi, tả, trò chuyện với sự vật |
| Thuộc | Nhóm biện pháp tu từ từ vựng, cùng nhóm với so sánh, ẩn dụ, hoán dụ |
| Dấu hiệu nhận biết | Sự vật được gọi là “ông, bác, chị…”, được gán hành động, tâm trạng của người, hoặc được gọi “ơi” như một người bạn |
| Tác dụng chính | Làm sự vật có hồn, gần với người đọc; gửi gắm tình cảm, thái độ của người viết |

Biện pháp nhân hóa là gì?
Thử đặt hai câu cạnh nhau: “Mặt trời mọc” và “Ông mặt trời thức dậy, vươn vai sau dãy núi”. Câu đầu báo một hiện tượng. Câu sau kể chuyện về một nhân vật. Sự khác nhau nằm ở mấy chữ ông, thức dậy, vươn vai, đều là từ ngữ của con người được đem sang cho mặt trời. Đó chính là nhân hóa.
Sách Tiếng Việt tiểu học và Ngữ văn THCS đều giảng nhân hóa theo cùng một hướng: lấy lời lẽ dành cho con người mà gọi, mà tả loài vật, cây cối, đồ vật, nhờ vậy thế giới ấy xích lại gần ta và nói hộ được những điều con người nghĩ, con người cảm. Trong các tài liệu cũ hơn còn gặp tên gọi nhân cách hóa; hai tên này chỉ cùng một phép tu từ.
Chữ Hán của từ này khá dễ nhớ: nhân (人) là người, hóa (化) là biến thành. Nhân hóa, hiểu theo mặt chữ, là “làm cho thành người”. Muốn đặt phép này vào bức tranh chung, có thể xem bảng những phép tu từ thường gặp trong chương trình phổ thông.
Ba kiểu nhân hóa trong sách Tiếng Việt
Cách chia quen thuộc nhất dựa vào việc người viết mượn loại từ ngữ nào của con người.
| Kiểu | Cách làm | Ví dụ |
|---|---|---|
| 1. Dùng từ gọi người để gọi vật | Đặt trước tên sự vật các từ như ông, bà, bác, chú, cô, cậu, lão, chị… | chị gió, bác xe ben, lão Miệng, cậu Chân |
| 2. Dùng từ chỉ hoạt động, tính chất của người để tả vật | Gán cho sự vật động tác, tâm trạng, tính nết vốn của người | hoa ghen, liễu hờn, trăng nhòm, gió thì thầm |
| 3. Trò chuyện, xưng hô với vật như với người | Gọi sự vật bằng “ơi”, nói với nó như nói với một người bạn | trâu ơi, núi ơi, hỡi cây bàng |
Kiểu thứ hai gặp nhiều nhất trong thơ, vì chỉ cần một động từ là đủ làm cả cảnh vật chuyển động. Kiểu thứ ba lại hay xuất hiện trong ca dao, nơi người nông dân trò chuyện với con trâu, cánh đồng, ngọn núi như với người thân. Truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là ví dụ trọn vẹn cho kiểu thứ nhất: cả năm bộ phận cơ thể được gọi bằng lão, bác, cô, cậu và cãi nhau y như một nhà đông người.
Soi từ ngữ để bắt được phép nhân hóa
Khi đọc một câu văn, câu thơ, hãy làm hai bước.
- Tìm sự vật không phải là người. Đó có thể là con vật, cây, đồ dùng, hiện tượng như mưa, gió, trăng, sông.
- Xem từ ngữ đi kèm sự vật ấy có phải từ “của người” không. Từ xưng hô (ông, chị, cậu), động từ chỉ hoạt động riêng của người (cười, khóc, ngắm, kể chuyện, hờn dỗi), tính từ chỉ tính nết (hiền lành, tinh nghịch, kiêu căng), hoặc lời gọi “ơi”.
Một điểm hay làm học sinh mất điểm: những động từ mà cả người lẫn vật đều làm được thì không tính. “Con mèo ngủ”, “con chim bay” không phải nhân hóa, vì mèo vốn ngủ, chim vốn bay. Nhưng “con mèo nằm mơ thấy cá rán” thì đã có dấu hiệu nhân hóa, bởi nằm mơ thấy món ăn là chuyện của người.
Khi nêu tác dụng, nên trả lời đủ hai vế: phép nhân hóa làm sự vật hiện lên ra sao (sinh động, có hồn, gần gũi) và qua đó người viết bộc lộ tình cảm, thái độ gì (yêu mến, thương cảm, châm biếm…). Chỉ ghi “làm câu văn sinh động” thường chưa được trọn điểm.
Hoa ghen, trăng nhòm và con trâu biết nghe
Trong đoạn tả hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều, Nguyễn Du viết về Kiều:
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Hoa và liễu được gán hai trạng thái rất “người”: ghen và hờn. Thiên nhiên vốn là chuẩn mực của cái đẹp mà nay phải ganh tị vì thua sắc thắm, thua màu xanh. Phép nhân hóa đẩy vẻ đẹp của Kiều lên trên cả tạo vật, đồng thời hé ra điều chẳng lành: đã khiến trời đất ghen hờn thì số phận khó yên ổn. Cách đọc này được phân tích kỹ trong bài đoạn trích Chị em Thúy Kiều ở lớp 9.
Hai câu kết bài Ngắm trăng (bản dịch Nam Trân) lại cho thấy nhân hóa làm nên cả một mối tình bạn:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Chữ nhòm biến vầng trăng thành một người bạn tinh nghịch, chủ động ghé qua song sắt nhà tù để gặp nhà thơ. Người và trăng nhìn nhau ngang hàng, nên cảnh ngục tù như bị đẩy lùi phía sau. Có thể đọc thêm các bài phân tích bài thơ Ngắm trăng để thấy chữ này được bình như thế nào.
Ca dao thì giản dị hơn:
Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Đây là kiểu thứ ba: người nông dân gọi “trâu ơi”, xưng “ta”, dặn dò như dặn một người cùng làm. Con trâu thôi là con vật kéo cày mà thành bạn đồng áng, và tình cảm gắn bó với nghề nông hiện ra rất tự nhiên.
Nhân hóa đứng cạnh so sánh, ẩn dụ
| Phép tu từ | Cơ chế | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nhân hóa | Đem từ ngữ của người gán cho vật | Chị gió khẽ vén rèm cửa |
| So sánh | Đặt hai sự vật cạnh nhau, thường có từ “như, là, tựa” | Mặt trời đỏ như hòn lửa |
| Ẩn dụ | Gọi sự vật này bằng tên sự vật khác có nét giống nhau, không nêu vế được so sánh | “Thuyền” chỉ người con trai, “bến” chỉ người con gái |
| Hoán dụ | Gọi sự vật bằng tên sự vật có quan hệ gần gũi với nó | “Cả làng” ra đồng để chỉ người dân trong làng |
Nhiều câu dùng cùng lúc hai phép. “Hoa ghen thua thắm” vừa là nhân hóa vừa ngầm so sánh sắc đẹp của Kiều với hoa. Khi làm bài, cứ gọi tên phép nổi bật nhất trước, rồi mới nói thêm phép đi kèm. Ôn lại hai phép dễ lẫn nhất qua bài so sánh và các kiểu so sánh cùng bài ẩn dụ dựa trên nét giống nhau.
Năm câu luyện nhận diện nhân hóa
Câu 1: Tìm phép nhân hóa và cho biết kiểu: “Ông mặt trời đạp xe qua đỉnh núi, để lại một vệt nắng vàng.”
Đáp án: Có hai dấu hiệu. “Ông” là từ gọi người dùng cho mặt trời (kiểu 1); “đạp xe” là hoạt động của người gán cho mặt trời (kiểu 2).
Câu 2: Câu ca dao “Núi cao chi lắm núi ơi / Núi che mặt trời chẳng thấy người thương” dùng kiểu nhân hóa nào?
Đáp án: Kiểu 3, trò chuyện với vật như với người. Người con gái gọi “núi ơi” và trách núi, qua đó bộc lộ nỗi nhớ người thương ở xa.
Câu 3: Câu nào có phép nhân hóa? a) Mặt trời đỏ như hòn lửa. b) Chị gió đi ngang, khẽ vén tấm rèm. c) Cả làng ra đồng gặt lúa.
Đáp án: Câu b. Câu a là so sánh (có từ “như”), câu c là hoán dụ (“cả làng” chỉ người trong làng).
Câu 4: Nêu tác dụng của phép nhân hóa trong câu “Những chiếc lá bàng thì thầm kể chuyện mùa đông sắp tới.”
Đáp án: “Thì thầm kể chuyện” khiến lá bàng như những người bạn nhỏ đang trò chuyện, cảnh cuối thu trở nên sinh động, có hồn. Câu văn cũng cho thấy người viết quan sát tinh tế và yêu cảnh vật quanh mình.
Câu 5: Viết một câu có phép nhân hóa kiểu 2 để tả chiếc cặp sách.
Đáp án gợi ý: “Chiếc cặp sách ngáp dài sau một ngày ôm chặt bao nhiêu là sách vở.” Từ “ngáp dài”, “ôm chặt” là hoạt động của người, gán cho cái cặp.
Một lỗi nhỏ đáng nhớ khi tự đặt câu: chọn đúng một chữ “của người” là đủ. Câu “Chú gà trống gáy” chưa thành nhân hóa nếu bỏ chữ “chú”, còn câu “Chú gà trống đứng trên đống rơm diễn văn chào buổi sáng” thì phép tu từ đã rõ ràng và có duyên hơn hẳn.
Nhân hóa trong bài làm văn của học sinh
Phép nhân hóa là gì, có khác “biện pháp nhân hóa” không?
Không khác. “Phép nhân hóa”, “biện pháp nhân hóa”, “biện pháp tu từ nhân hóa” là ba cách gọi cùng một phép tu từ. Đề bài dùng tên nào thì trả lời theo khái niệm chung ở trên.
Nhân hóa và nhân cách hóa có phải một không?
Phải. “Nhân cách hóa” là tên gọi gặp trong sách và tài liệu cũ, nhấn vào việc cho sự vật có nhân cách. Sách hiện hành quen gọi gọn là nhân hóa.
Tác dụng của biện pháp nhân hóa nên viết thế nào cho đủ ý?
Nên viết theo ba ý: chỉ ra từ ngữ nhân hóa, nói sự vật hiện lên ra sao nhờ phép ấy, rồi nêu tình cảm hay thái độ của người viết. Ví dụ với “trăng nhòm”: trăng thành người bạn tinh nghịch, thể hiện tình yêu thiên nhiên và phong thái ung dung của nhà thơ.
Gọi con vật là “bác Gấu”, “cô Thỏ” trong truyện thiếu nhi có tính là nhân hóa không?
Có. Truyện đồng thoại và truyện ngụ ngôn dựa hẳn vào nhân hóa: con vật được đặt tên, nói năng, suy nghĩ như người. Khi phân tích, có thể gọi đây là nhân hóa cả nhân vật chứ không chỉ một câu.