Lợi bất cập hại là câu thành ngữ gốc Hán chỉ tình huống phần được không đủ đắp vào phần mất: tưởng làm thế là được, tính kĩ lại thì mất nhiều hơn. Người ta dùng câu này để cảnh báo trước một quyết định, hoặc để nhận xét một việc đã làm mà kết quả thiệt hơn lợi.
| Nghĩa ngắn | Lợi không bằng hại; được ít mà mất nhiều |
| Chữ Hán | 利不及害: lợi (ích lợi) + bất (chẳng) + cập (kịp, bằng) + hại (thiệt hại) |
| Loại | Thành ngữ Hán Việt, thường làm vị ngữ hoặc đứng thành một nhận xét |
| Sắc thái | Cảnh báo, phê phán nhẹ; dùng được cả trong văn nói và văn viết |

Lợi bất cập hại nghĩa là gì?
Hình dung một cái cân. Bên này là phần lợi: tiết kiệm được ít tiền, xong việc nhanh hơn, được khen một lần. Bên kia là phần hại: hỏng đồ, mất lòng tin, sức khỏe sa sút. Khi đĩa cân bên hại nặng hơn, việc ấy là lợi bất cập hại.
Các từ điển tiếng Việt giảng câu này gần giống nhau: phần lợi không đền nổi phần thiệt, ngỡ là được mà hóa ra mất nhiều hơn. Điểm cần giữ là có lợi thật. Thành ngữ chỉ đúng khi việc làm ấy mang lại một cái gì đó, chỉ là cái được quá nhỏ so với cái mất. Vài câu dùng ở các chỗ khác nhau:
- Thức trắng ba đêm để ôn thi thì vào phòng thi đầu óc mụ mị, lợi bất cập hại.
- Mua đôi giày rẻ mà mỗi tháng phải dán đế một lần, tính ra lợi bất cập hại.
- Phá rừng đầu nguồn lấy gỗ, mùa mưa lũ về cuốn cả làng: đó là bài học lợi bất cập hại đắt nhất.
- Khen con quá đà để con vui, lâu dần con không chịu nổi một lời góp ý; nuông chiều kiểu ấy cũng lợi bất cập hại.
Bốn chữ 利不及害 ghép lại
Thành ngữ được ghép đúng theo cách nói của Hán văn, đọc từng chữ là ra nghĩa:
- Lợi (利): điều có ích, cái được; cùng gốc có lợi ích, lợi nhuận, tiện lợi.
- Bất (不): chẳng, không.
- Cập (及): theo Thiều Chửu, nghĩa đầu là kịp, đến; nghĩa thứ hai là bằng, như bất cập nhân là chẳng bằng người. Từ này còn trong cập nhật, phổ cập.
- Hại (害): điều làm tổn thương, thiệt hại.
Ghép lại, “lợi chẳng bằng hại”. Chữ cập là then chốt. Nó không nói lợi bằng không, mà nói lợi đuổi không kịp hại. Câu quen thuộc quá do bất cập (quá cũng như chưa tới) dùng cùng chữ ấy, nên hai câu hay được nhớ cạnh nhau. Hiện chưa thấy nguồn đáng tin nào chỉ ra sách cổ cụ thể đã dùng nguyên câu “lợi bất cập hại” đầu tiên, nên tốt nhất coi đây là một thành ngữ Hán Việt quen dùng trong tiếng Việt.
Một chỗ cần tách bạch: bất cập đứng một mình trong tiếng Việt hiện nay thường được hiểu là còn thiếu sót, chưa hợp lí (“quy định còn nhiều bất cập”). Trong thành ngữ, nó vẫn giữ nghĩa cũ là “không bằng”. Người viết hiểu nhầm sẽ đặt ra những câu lủng củng như “chính sách này lợi bất cập vì còn kẽ hở”.
Đặt lợi và hại lên bàn cân khi viết nghị luận
Câu thành ngữ này là một khung lập luận gọn cho các đề nghị luận về lựa chọn: dùng điện thoại khi học, học thêm tràn lan, chạy theo trào lưu trên mạng. Có thể triển khai theo ba bước:
- Thừa nhận cái lợi: nêu thẳng điều người ta được, để lập luận công bằng và người đọc thấy mình không phủ nhận trơn.
- Kê cái hại, kể cả cái hại chậm: có những thiệt hại không thấy ngay, như sức khỏe, thói quen, lòng tin; đây là phần làm đĩa cân lệch.
- Kết bằng cách làm khác: giữ được phần lợi mà bớt phần hại thì việc không còn là lợi bất cập hại nữa.
Lối nghĩ này gần với lời khuyên đừng nóng vội trong bài câu nóng vội thì hỏng việc của người xưa: cả hai đều nhắc rằng cái được trước mắt có thể kéo theo cái mất về sau.
Muốn đổi chữ lợi ích cho đỡ lặp, hay chọn đúng từ đối như tác hại, thiệt hại, hãy đọc đồng nghĩa, trái nghĩa với lợi ích.
Câu cùng ý và câu ngược ý
| Cách nói | Quan hệ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Được ít mất nhiều; được không bù mất | Đồng nghĩa | Cách nói thuần Việt, dễ hiểu |
| Tham bát bỏ mâm | Gần nghĩa | Nhấn vào lòng tham cái nhỏ mà bỏ mất cái lớn |
| The cure is worse than the disease | Tương đương tiếng Anh | Thuốc còn tệ hơn bệnh; cũng hay nói do more harm than good |
| Nhất cử lưỡng tiện; một công đôi việc | Trái nghĩa | Một việc làm mà được hai cái lợi |
Tham bát bỏ mâm khác ở chỗ trách người: vì tham nên mất. Lợi bất cập hại chỉ cân kết quả, không nhất thiết người làm có lỗi tham; nhiều khi chỉ là tính chưa kĩ. Để nhận ra đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ trong những câu kể trên, xem bài nhận diện một câu thành ngữ tiếng Việt.
Một lưu ý cuối: nếu việc chỉ toàn hại, không có chút lợi nào, thì cứ nói thẳng là “có hại”. Đem lợi bất cập hại ra lúc ấy là nói nhẹ đi điều đáng nói nặng.
Lợi bất cập hại trong lời khuyên và bài văn
Lợi bất cập hại là thành ngữ hay tục ngữ?
Nó thuộc loại thành ngữ: một cụm cố định dùng để nhận xét, đặt vào câu như một vị ngữ (“làm thế thì lợi bất cập hại”), chứ không phải một câu trọn ý đúc kết kinh nghiệm như tục ngữ.
Lợi bất cập hại tiếng Anh là gì?
Có thể nói the cure is worse than the disease, hoặc gọn hơn là it does more harm than good. Cả hai đều chỉ việc làm mang lại thiệt hại lớn hơn lợi ích.
Đặt câu với lợi bất cập hại thế nào cho tự nhiên?
Nêu cái lợi trước, cái hại sau, rồi chốt bằng thành ngữ. Ví dụ: “Bỏ bữa sáng để ngủ thêm mười phút, đến giờ thứ ba thì đói lả, đúng là lợi bất cập hại.”
Cập trong lợi bất cập hại nghĩa là gì?
Cập (及) nghĩa là kịp, bằng. “Bất cập” trong thành ngữ là không bằng, nên cả câu nghĩa là lợi không bằng hại.