Kiến thức là những điều hiểu biết mà một người gom được nhờ học tập hoặc nhờ từng trải: biết nước sôi ở bao nhiêu độ, biết câu thơ ấy của ai, biết lúc nào nên gieo hạt. Nói “kiến thức nghĩa là gì” cũng là hỏi về cái vốn hiểu biết đó, thứ được tích dần qua sách vở, qua thầy cô và qua chính những lần va chạm với đời sống.
| Nghĩa ngắn | Điều hiểu biết có được do học tập hoặc do từng trải |
| Gốc từ | Hán Việt 見識: kiến (thấy) + thức (biết, nhận ra) |
| Loại từ | Danh từ, thường nói tổng quát: kiến thức địa lí, kiến thức chuyên môn |
| Gần nghĩa | Tri thức, hiểu biết, học thức |
| Tiếng Anh | knowledge |

Kiến thức 見識: thấy rồi mới biết
Hai chữ ghép thành từ này kể một chuyện khá dễ thương. Chữ kiến (見) là thấy, gặp, như trong kiến giải, ý kiến, tận mắt chứng kiến. Chữ thức (識) là biết, nhận ra được, cùng họ với nhận thức, ý thức, học thức. Ghép lại, kiến thức là cái biết sinh ra từ cái thấy.
Trong tiếng Hán, 見識 vẫn giữ màu từng trải ấy: nó chỉ sự hiểu biết lẫn kinh nghiệm của người đã đi nhiều, gặp nhiều, và còn dùng như động từ với nghĩa mở mang tầm hiểu biết. Còn “biết” theo lối sách vở thì người Trung Hoa hay nói 知識, tức chữ mà tiếng Việt đọc là tri thức. Sang tiếng Việt, hai từ xích lại gần nhau đến mức từ điển ghi chúng là đồng nghĩa, chuyện chữ tri thức đã được kể riêng ở bài chiết tự hai chữ 知識.
Kiến thức trong lời nói hằng ngày
Mục từ kiến thức trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học xếp đây là danh từ, nghĩa là những điều hiểu biết có được do từng trải hoặc do học tập, và lưu ý từ này mang tính tổng quát. Wiktionary tiếng Việt giảng gần như vậy: điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên.
Chữ “tổng quát” đáng để ý. Người ta ít khi đếm kiến thức từng cái một; ta nói một lượng kiến thức, vốn kiến thức, lỗ hổng kiến thức chứ không nói “ba cái kiến thức”. Muốn đếm, tiếng Việt chuyển sang từ khác: một điều, một mẹo, một khái niệm.
Từ này đi với rất nhiều chữ đứng sau để khoanh vùng:
- Theo môn, theo ngành: kiến thức địa lí, kiến thức y khoa, kiến thức pháp luật.
- Theo mức độ: kiến thức cơ bản, kiến thức nâng cao, kiến thức nền.
- Theo phạm vi: kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội.
Động từ hay đi kèm cũng cho thấy người Việt hình dung kiến thức như một thứ của cải: tích lũy, bồi đắp, trang bị, truyền thụ, củng cố, cập nhật. Ví dụ: Trước kì thi, cô dành hai tuần để cả lớp củng cố kiến thức về câu. Hay một câu đời thường hơn: Bác bán cây ngoài chợ không học nông nghiệp ngày nào, nhưng kiến thức về đất và nước thì ai cũng phải nể.
Kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm, tri thức
| Từ | Chỗ khác | Ví dụ |
|---|---|---|
| Kiến thức | Những điều biết được, gom thành vốn; dùng được cho cả chuyện học lẫn chuyện đời | Kiến thức Toán lớp 9 |
| Hiểu biết | Rộng và mềm hơn, nghiêng về mức độ hiểu của một người | Một người hiểu biết, ăn nói có chừng mực |
| Kinh nghiệm | Bài học rút ra từ việc đã làm, đã trải qua; thiên về thực hành | Kinh nghiệm đi rừng mùa mưa |
| Tri thức | Trang trọng hơn, hay nói về hiểu biết có hệ thống của cả loài người | Kho tri thức nhân loại |
| Kỹ năng | Không phải “biết” mà là “làm được” | Kỹ năng bơi, kỹ năng thuyết trình |
Ranh giới giữa kiến thức và kinh nghiệm mờ hơn ta tưởng, chính vì cái gốc “thấy rồi mới biết” ở trên. Biết rằng đi đèo nên về số thấp là kiến thức; đã từng một lần phanh cháy má mới nhớ mãi điều đó là kinh nghiệm. Còn khi biết rồi mà làm thuần thục được thì đã sang địa phận của kỹ năng, thứ biết đi đôi với làm.
Về phía trái nghĩa, tiếng Việt không có một từ đối thẳng, chỉ có những cách nói chỉ sự thiếu: ngu dốt, kém hiểu biết, mù tịt, hay câu quen thuộc “ếch ngồi đáy giếng”.
Khi viết, chọn tri thức hay hiểu biết còn tùy chữ đi kèm; bảng kết hợp quen của từng từ nằm trong đồng nghĩa, trái nghĩa với kiến thức.
Khi đề văn bàn về kiến thức
Đề nghị luận kiểu “Suy nghĩ về vai trò của kiến thức đối với tuổi trẻ” hay “Học để biết hay học để thi” khá quen ở cấp THCS và THPT. Có thể triển khai theo ba ý:
- Giải thích: kiến thức là vốn hiểu biết có được từ học tập và trải nghiệm; nó không có sẵn từ lúc sinh ra mà phải tích từng ngày.
- Bàn luận: kiến thức giúp con người hiểu đúng sự việc, tránh bị lừa, chọn được việc làm phù hợp; nhưng kiến thức chết trên giấy, học thuộc để quên ngay sau buổi thi, thì chẳng thành vốn của ai.
- Mở rộng: kiến thức cần đi cùng kỹ năng và nhân cách; người giỏi mà dùng hiểu biết để gian lận thì càng đáng trách.
Muốn có thêm dẫn chứng về con đường tự tìm lấy hiểu biết, bài những tấm gương tự học có nhiều chuyện kể ngắn dùng được. Một chi tiết hay để mở đoạn: chữ kiến trong kiến thức chính là chữ kiến trong kiến văn, thấy và nghe, như nhắc rằng sách vở chỉ là một nửa, nửa còn lại phải tự đi mà thấy.
Vốn kiến thức, kiến thức nền và vài cách gọi khác
Vốn kiến thức là gì?
Là toàn bộ những điều một người đã biết, được nhìn như một thứ tài sản có thể tăng lên hoặc mai một. Nói “vốn kiến thức rộng” là khen người ấy biết nhiều lĩnh vực; “vốn kiến thức còn mỏng” là nhắc người ấy cần học thêm.
Kiến thức nền là gì?
Là phần hiểu biết căn bản phải có trước thì mới học tiếp được phần sau, như phải thuộc bảng cửu chương rồi mới làm phép chia. Học sinh mất kiến thức nền ở lớp dưới thường thấy lớp trên ngày càng khó.
Kiến thức tiếng Anh là gì?
Thường dịch là knowledge, danh từ không đếm được, giống tiếng Việt ở chỗ ít khi đếm từng cái. Kiến thức chuyên môn có thể nói expertise hoặc professional knowledge; kiến thức nền là background knowledge.
Kiến thức và tri thức có dùng thay nhau được không?
Nhiều câu thay được, vì từ điển ghi chúng đồng nghĩa. Tuy vậy “kiến thức lớp 6” nghe tự nhiên, còn “tri thức lớp 6” thì không; ngược lại “nền kinh tế tri thức” lại không ai đổi thành “kinh tế kiến thức”.