Tri thức là cái biết đã được sắp xếp thành hệ thống về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, do con người tích góp qua học tập, quan sát, trải nghiệm. Hỏi tri thức nghĩa là gì thì có thể hiểu gọn: đó là cái biết đã được sắp xếp, kiểm chứng, truyền lại được cho người khác, như tri thức khoa học, tri thức dân gian hay vốn tri thức của một dân tộc.
| Nghĩa ngắn | Cái biết đã thành hệ thống về tự nhiên, xã hội |
| Gốc từ | Hán Việt 知識: tri (biết) + thức (nhận biết, hiểu) |
| Loại từ | Danh từ, thường dùng với nghĩa khái quát |
| Kết hợp hay gặp | tri thức khoa học, kinh tế tri thức, vốn tri thức, tiếp thu tri thức |

Từ điển định nghĩa tri thức ra sao?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi tri thức là danh từ, chỉ những điều hiểu biết mang tính hệ thống về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên hay trong xã hội, kèm chú thích “nói khái quát”. Hai chữ ấy đáng để ý. Một mẩu tin vừa đọc trên mạng chưa thành tri thức; phải là cái biết đã gắn vào một hệ thống, hiểu được vì sao, liên hệ được với những điều khác.
Từ này dùng nhiều ở văn viết, báo chí, sách giáo khoa:
- Sách là kho tri thức của loài người.
- Ông bà truyền cho con cháu những tri thức về thời tiết, mùa màng qua tục ngữ.
- Nền kinh tế tri thức lấy hiểu biết và sáng tạo làm nguồn lực chính.
Ở trường, học sinh còn gặp cụm “tri thức Ngữ văn” ở phần mở đầu mỗi bài học của sách Ngữ văn bộ Kết nối tri thức: đó là những khái niệm cần nắm trước khi đọc văn bản, chẳng hạn đặc điểm của thể loại sắp học.
Đọc lên “tri” và “trí” chỉ khác một dấu sắc nên nhiều người viết lẫn với trí thức, từ chỉ người lao động trí óc. Cách phân biệt hai từ có trong bài tri thức hay trí thức đúng chính tả.
知識: hai chữ cùng mang nghĩa biết
Thú vị là cả hai chữ đều xoay quanh việc biết. Tri (知) là biết, hiểu; Thiều Chửu giảng rằng phàm những gì lòng mình nhận ra, phân biệt, phán đoán, ghi nhớ được đều gọi là tri. Cùng gốc có tri giác, tri âm (người hiểu tiếng đàn, hiểu lòng mình), vô tri, tri ân. Thức (識) là nhận ra, phân biệt được; nghĩa danh từ là sự hiểu biết, kiến giải. Chữ này có trong kiến thức, ý thức, nhận thức, học thức.
Ghép hai chữ “biết” lại, tri thức là cái biết được nhân đôi, cái biết đã qua nhận ra rồi lại hiểu thấu. Nếu muốn đi tiếp từ cái biết sang quá trình con người hiểu thế giới, có thể đọc bài giải nghĩa từ nhận thức.
Tri thức, kiến thức, thông tin, trí tuệ đứng cạnh nhau
| Từ | Điểm chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tri thức | Cái biết đã thành hệ thống, mang tính khái quát, của cả một ngành hay một cộng đồng | Tri thức nhân loại, tri thức dân gian |
| Kiến thức | Hiểu biết cụ thể một người học được, nắm được | Kiến thức môn Toán lớp 8 |
| Thông tin | Dữ kiện, tin tức rời rạc, chưa chắc đã được hiểu hay kiểm chứng | Thông tin trên mạng xã hội |
| Trí tuệ | Khả năng hiểu sâu và dùng hiểu biết một cách sáng suốt | Một người có trí tuệ hơn người |
| Trái nghĩa | Vô tri, ngu dốt, mông muội (thiếu hiểu biết) | Đẩy lùi sự mông muội |
Tri thức và kiến thức gần nhau đến mức nhiều câu thay được cho nhau. Khác biệt nằm ở tầm: nói “kiến thức của em” thì tự nhiên, nói “tri thức của em” nghe hơi to tát. Ngược lại, “tri thức nhân loại” quen tai hơn “kiến thức nhân loại”. Còn thông tin chỉ là nguyên liệu; phải được chọn lọc, đối chiếu và hiểu thì mới thành tri thức.
Câu nào đổi được kiến thức sang tri thức, câu nào đổi thì nghe như dịch máy, được thử từng ví dụ ở nhóm từ cùng nghĩa với kiến thức.
Chỗ nào đổi tri thức sang học thức, học vấn được, chỗ nào phải giữ nguyên, có bảng thử ở đồng nghĩa, trái nghĩa với tri thức.
Câu nói “tri thức là sức mạnh” và đề nghị luận quen thuộc
Câu “tri thức là sức mạnh” thường được gắn với nhà triết học Anh Francis Bacon. Bản gần nhất trong tác phẩm của ông là câu tiếng Latin “ipsa scientia potestas est” (1597); đúng dạng “scientia potentia est” thì về sau mới xuất hiện trong sách của Thomas Hobbes. Ở Việt Nam, câu này quen thuộc vì hay được chọn làm đề nghị luận xã hội.
Một hướng triển khai gợi ý:
- Giải thích: tri thức là cái biết đã được hệ thống hóa; “sức mạnh” là khả năng làm chủ hoàn cảnh, giải quyết vấn đề, thay đổi cuộc sống.
- Vì sao tri thức là sức mạnh: giúp con người hiểu và cải tạo tự nhiên; mở ra nghề nghiệp, thu nhập; giúp mỗi người tỉnh táo trước tin giả, lời dụ dỗ.
- Bàn thêm: tri thức chỉ thành sức mạnh khi được vận dụng; tri thức đi kèm đạo đức mới đem lại điều tốt.
- Bài học: đọc sách, tự học, biết hoài nghi và kiểm chứng.
Dẫn chứng về việc đọc sách có thể lấy từ bài đọc của Chu Quang Tiềm trong sách Cánh diều; ý về học suốt đời thì xem bài tinh thần tự học và cách rèn luyện.
Những thắc mắc xoay quanh chữ tri thức
Tri thức là gì theo triết học?
Triết học coi tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là những hiểu biết đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Từ thời Hy Lạp cổ, các nhà triết học đã bàn khi nào một niềm tin được coi là hiểu biết thật; ngành nghiên cứu câu hỏi đó gọi là nhận thức luận.
Tri thức và kiến thức khác nhau thế nào?
Kiến thức thường là hiểu biết cụ thể của một người về một lĩnh vực; tri thức mang tính khái quát, hệ thống, hay dùng cho cả cộng đồng hay nhân loại. Trong nhiều câu thông thường, hai từ có thể dùng thay nhau.
Tri thức tiếng Anh là gì?
Thường dịch là knowledge. Cụm “kinh tế tri thức” là knowledge economy, còn “tri thức là sức mạnh” là knowledge is power.
Vốn tri thức là gì?
Là toàn bộ hiểu biết một người hay một cộng đồng tích lũy được, dùng làm nền để học tiếp và làm việc. Người có vốn tri thức rộng thường dễ tiếp thu cái mới hơn.