Kí là tên gọi chung của một nhóm thể loại văn xuôi viết về người thật, việc thật mà chính người viết đã gặp, đã tìm hiểu, như kí sự, phóng sự, bút kí, tùy bút, nhật kí, hồi kí. Ngoài nghĩa thể loại học trong môn Ngữ văn, chữ kí còn là cách nói tắt của kí tên, và trong khẩu ngữ là một ki-lô-gam. Bài này đi sâu vào thể kí, rồi giải thích gọn các nghĩa còn lại.
| Khái niệm | Nhóm thể văn xuôi phi hư cấu, ghi lại người thật, việc thật kèm cảm nghĩ của người viết |
| Nghĩa gốc của chữ | 記: ghi, ghi chép, nhớ |
| Thuộc | Loại hình tự sự; nằm giữa văn chương và báo chí, ghi chép tư liệu |
| Dấu hiệu nhận biết | Địa danh, thời gian, nhân vật có thật; người viết thường xưng “tôi” kể điều mắt thấy tai nghe |
| Nghĩa khác | Kí tên (động từ); một kí là một ki-lô-gam (khẩu ngữ) |

Kí trong văn học là gì?
Chữ kí (記) trong Hán văn có nghĩa là nhớ, rồi ghi chép. Thiều Chửu giảng rằng sách nào ghi chép sự vật đều có thể gọi là kí, như du kí là sách chép những điều nghe thấy khi đi đây đi đó. Tên thể loại sinh ra từ chính nghĩa ấy: kí là văn ghi lại cái có thật.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa kí là thể văn tự sự viết về người thật, việc thật, mang tính thời sự và bám sát hiện thực ở mức cao nhất. Sách Ngữ văn 11 bộ Kết nối tri thức, phần hệ thống hóa kiến thức, mở rộng hơn: kí là tên một nhóm thể và tiểu loại văn xuôi phi hư cấu, có thể dung hợp nhiều yếu tố như tự sự, trữ tình, nghị luận. Gộp hai cách giảng lại, có thể hiểu kí là văn xuôi kể chuyện thật, nhưng không khô như biên bản, vì người viết được phép đưa cảm xúc và suy nghĩ của mình vào.
Vì đứng chung một chữ, bài văn xuôi phi hư cấu và các thể kí có thể đọc kèm để thấy kí nằm ở đâu trong bức tranh lớn hơn.
Chữ này gặp cả hai cách viết kí và ký; sách giáo khoa hiện hành dùng kí. Chuyện chọn i hay y được bàn ở bài chữ ký với chữ kí viết sao.
Bốn dấu hiệu nhận ra một bài kí
- Người thật, việc thật. Tên đất, tên người, mốc thời gian đều có thể kiểm chứng. Đọc Cô Tô, người ta biết đó là quần đảo có thật ở vùng biển Quảng Ninh, chứ không phải một hòn đảo bịa ra.
- Người viết có mặt. Tác giả thường xưng “tôi”, đứng ở vị trí người chứng kiến hoặc người trong cuộc. Cái “tôi” ấy vừa kể vừa bày tỏ thái độ.
- Kết hợp nhiều phương thức. Một trang kí có thể vừa kể việc, vừa tả cảnh, vừa bộc lộ cảm xúc, vừa bình luận. Mức đậm nhạt của từng phương thức tạo nên các tiểu loại khác nhau.
- Cốt truyện lỏng hoặc không có. Kí đi theo hành trình, theo ngày tháng hay theo dòng suy nghĩ, không dựng xung đột hư cấu như truyện ngắn. Nhân vật không được nhào nặn tùy ý.
Dấu hiệu thứ nhất là quan trọng nhất. Một văn bản có xưng “tôi”, có tả cảnh rất thật, nhưng nhân vật và sự việc do tác giả tưởng tượng thì vẫn là truyện, không phải kí.
Các tiểu loại kí thường gặp
| Tiểu loại | Đặc điểm chính | Ví dụ quen thuộc |
|---|---|---|
| Kí sự | Thiên về kể, ghi lại sự kiện theo diễn biến | Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) |
| Phóng sự | Đi sâu vào một vấn đề xã hội, nhiều tư liệu, đậm màu điều tra | Phóng sự của báo chí đầu thế kỉ XX |
| Bút kí | Ghi điều tai nghe mắt thấy kèm nhận xét, cảm xúc của người viết | Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) |
| Tùy bút | Tự do, nghiêng về cảm nghĩ; sự việc chỉ là cái cớ để bộc lộ cái tôi | Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) |
| Nhật kí | Ghi theo ngày, riêng tư, viết cho chính mình | Nhật kí Đặng Thùy Trâm |
| Hồi kí | Nhớ lại chuyện đã qua của đời mình | Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng) |
Một số sách chia gọn hơn thành hai nhánh: kí tự sự (kí sự, phóng sự, hồi kí, du kí) và kí trữ tình (tùy bút, phần lớn bút kí). Ranh giới giữa bút kí và tùy bút khá mỏng, khi phân loại nên xem yếu tố nào nổi trội trong văn bản cụ thể. Riêng tùy bút có bài dấu hiệu nhận ra một bài tùy bút giải thích kĩ hơn.
Ba bài kí học sinh hay gặp
Vào phủ chúa Trịnh: kí sự viết bằng chữ Hán
Thượng kinh kí sự là tập kí sự bằng chữ Hán của danh y Lê Hữu Trác, kể chuyến ông được triệu lên kinh đô chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán. Đoạn trích quen thuộc tả cảnh ông đi qua bao lớp cửa, bao dãy hành lang mới tới chỗ thế tử nằm. Tác giả chỉ kể và tả những gì mình thấy, gần như không bình luận. Chính cách ghi chép tỉ mỉ ấy làm người đọc tự nhận ra sự xa hoa, ngột ngạt trong phủ chúa. Đây là sức mạnh riêng của kí: sự thật được bày ra đã tự nói lên thái độ. Đọc thêm ở trang tác giả, bố cục đoạn Vào phủ chúa Trịnh.
Cô Tô: cái tôi tài hoa của Nguyễn Tuân
Học sinh lớp 6 gặp bài kí Cô Tô, ghi lại chuyến Nguyễn Tuân ra quần đảo này. Những cảnh sau trận bão, cảnh mặt trời mọc trên biển, cảnh dân chài quây quần bên giếng nước ngọt đều có thật, nhưng được nhìn qua con mắt của một người viết rất kĩ chữ. Ví dụ này cho thấy kí không cần hư cấu vẫn có thể đẹp như văn chương. Gợi ý trả lời câu hỏi trong sách có ở bài soạn Cô Tô sách Kết nối tri thức lớp 6.
Nhật kí Đặng Thùy Trâm: kí viết cho chính mình
Hai cuốn nhật kí của bác sĩ Đặng Thùy Trâm được viết trong những năm chị làm việc ở bệnh xá Đức Phổ, Quảng Ngãi, thời chiến. Chị không viết để in, nên câu chữ rất thật: có niềm tin, có mệt mỏi, có nhớ nhà. Tác dụng của thể nhật kí lộ rõ ở đây: người đọc được nhìn vào đời sống bên trong của một con người cụ thể, điều mà ít thể loại nào làm được.
Kí khác truyện ở chỗ nào?
| Tiêu chí | Kí | Truyện |
|---|---|---|
| Chất liệu | Người thật, việc thật | Nhân vật, sự việc do tác giả hư cấu |
| Người kể | Thường là chính tác giả | Có thể là nhân vật hoặc người kể giấu mình |
| Cốt truyện | Lỏng, theo hành trình hay thời gian | Có xung đột, có thắt nút và mở nút |
| Điều người đọc tin | Tin rằng việc đã xảy ra thật | Biết là chuyện bịa nhưng tin vào ý nghĩa của nó |
Cái bẫy hay gặp nằm ở tên tác phẩm. Dế Mèn phiêu lưu kí có chữ kí nhưng là truyện đồng thoại, nhân vật là con dế biết nói. Còn Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du là một bài thơ; chữ kí trong nhan đề chỉ tập văn để lại của nàng Tiểu Thanh. Chữ kí trên bìa sách chưa nói gì về thể loại.
Luyện nhận diện thể kí qua bốn câu
Câu 1: Tác phẩm nào dưới đây thuộc thể kí?
A. Dế Mèn phiêu lưu kí. B. Cô Tô. C. Độc Tiểu Thanh kí. D. Truyền kì mạn lục.
Đáp án: B. Cô Tô ghi lại chuyến đi thật của Nguyễn Tuân. A là truyện đồng thoại, C là thơ, D là tập truyện truyền kì có yếu tố kì ảo.
Câu 2: Đoạn văn sau gần với tiểu loại kí nào nhất?
“Ngày 12. Trời mưa suốt từ sáng. Mình ngồi trong lán, nghe tiếng mưa gõ lên mái lá mà nhớ mẹ quá.”
Đáp án: Nhật kí. Có ghi ngày, kể việc trong ngày, bộc lộ cảm xúc riêng, giọng như viết cho chính mình.
Câu 3: Vì sao không thể xếp một truyện ngắn kể ngôi thứ nhất vào thể kí?
Đáp án: Vì xưng “tôi” chỉ là cách kể. Điều quyết định là chất liệu: truyện ngắn được phép hư cấu nhân vật, sự việc, còn kí phải dựa trên người thật, việc thật.
Câu 4: Tùy bút khác kí sự ở điểm nào?
Đáp án: Kí sự thiên về kể sự kiện theo diễn biến. Tùy bút thiên về cảm nghĩ của người viết, sự việc chỉ là điểm tựa để bộc lộ cái tôi, nên bố cục tự do hơn.
Kí, kí tên và một kí gạo
Kí tên là gì?
Là viết tên hoặc chữ kí của mình vào giấy tờ để xác nhận, đồng ý hay chịu trách nhiệm. Nói tắt thành kí: kí hợp đồng, kí vào biên bản. Thiều Chửu cũng giảng chữ 記 có nghĩa ghi tên mình vào giấy tờ, nên kí tên và thể kí thật ra chung một chữ.
Một kí bằng bao nhiêu gam?
Một kí là một ki-lô-gam, tức 1.000 gam. Đây là cách nói tắt trong khẩu ngữ, phổ biến ở miền Nam: mua hai kí cam. Trong bài kiểm tra Toán hay văn bản chính thức nên viết ki-lô-gam hoặc kg.
Hồi kí và nhật kí khác nhau thế nào?
Nhật kí ghi ngay trong ngày, theo từng ngày. Hồi kí viết sau nhiều năm, nhìn lại một quãng đời đã qua, nên có khoảng cách và có sự sắp xếp của trí nhớ.
Thể kí có được hư cấu không?
Về nguyên tắc là không được bịa người, bịa việc. Người viết có quyền chọn chi tiết, sắp xếp và bày tỏ cảm xúc, nhưng nếu nhân vật hay sự kiện chính là tưởng tượng thì văn bản đã chuyển sang truyện.