Đính hôn là việc hai người và gia đình hai bên chính thức hứa hẹn sẽ cưới nhau. Người Việt thường hiểu lễ đính hôn là lễ ăn hỏi (đám hỏi): nhà trai mang lễ vật sang nhà gái xin cưới, nhà gái nhận lễ là đồng ý gả con. Đính hôn chưa phải là cưới và chưa làm hai người thành vợ chồng theo pháp luật.
| Nghĩa | Giao ước sẽ lấy nhau làm vợ chồng; đồng nghĩa: đính ước |
| Gốc từ | Hán Việt 訂婚: đính (bàn định, giao ước) + hôn (cưới) |
| Tên gọi khác | Lễ ăn hỏi, đám hỏi, lễ hỏi |
| Thời điểm | Sau dạm ngõ, trước lễ cưới; khoảng cách tùy mỗi nhà |
| Vùng miền | Có ở cả ba miền; tên gọi và lễ vật mỗi vùng một khác |

Đính hôn: lời hứa sẽ lấy nhau
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng đính hôn là động từ, nghĩa là giao ước sẽ lấy nhau làm vợ chồng, đồng nghĩa với đính ước. Ví dụ quen thuộc là “tổ chức lễ đính hôn“. Chữ đính (訂), theo Thiều Chửu, là hai bên bàn bạc kỹ rồi mới thỏa thuận, như đính ước, đính giao (kết bạn). Cũng chữ ấy cho ta hiệu đính, đính chính: sửa cho đúng. Chữ hôn (婚) là cưới vợ, lấy chồng, có trong hôn nhân, kết hôn, hôn lễ.
Vậy đính hôn là “định chuyện cưới”: chuyện đôi lứa đã được hai nhà bàn bạc và thống nhất. Từ lúc ấy người ta gọi nhau là vợ sắp cưới, chồng sắp cưới, hay nói kiểu cũ là đã có nơi có chốn. Chữ đính trong đính hôn không phải chữ “đính” là gắn vào, như đính khuy.
Vì sao phải có một lễ hứa trước lễ cưới?
Ngày xưa, hôn nhân là việc của hai họ, không chỉ của hai người. Tục cưới hỏi cổ có nhiều bước, trong đó có bước nhà trai đưa lễ vật sang để định chuyện, tức phần sau này dân gian gọi là ăn hỏi. Dấu vết các bước lễ ấy được kể lại trong bài về lễ nạp tài trong tục cưới cổ. Lễ hứa có giá trị như lời công bố: cả họ hàng, làng xóm cùng biết cô gái đã có người hỏi, hai nhà đã nhận lời.
Bây giờ, lễ đính hôn vẫn giữ ý nghĩa ấy: xin phép, thông báo và gắn kết hai gia đình. Thêm vào đó, nhiều cặp đôi đưa vào lễ những chi tiết từ phương Tây như lời cầu hôn và chiếc nhẫn đính hôn. Ở nhiều nước, đính hôn chỉ là lúc chàng trai cầu hôn và cô gái nhận nhẫn; ở Việt Nam, đính hôn thường đi kèm cả một buổi lễ có tráp, có hai họ.
Lễ đính hôn của người Việt diễn ra thế nào?
Trước ngày lễ
Hai nhà đã gặp nhau ở buổi dạm ngõ, nay chọn ngày lành để làm lễ hỏi. Nhà trai chuẩn bị lễ vật trong các tráp: trầu cau gần như không thể thiếu, kèm chè, rượu, bánh, hoa quả; mỗi vùng thêm bớt khác nhau. Miếng trầu đứng đầu mâm lễ vì nó gắn với chuyện tình nghĩa, như trong truyện cổ tích về miếng trầu và tình nghĩa.
Trong buổi lễ
Đoàn nhà trai đến nhà gái, đại diện hai bên chào hỏi và nói lời trao nhận lễ. Nhà gái nhận lễ, đặt lên bàn thờ, cô dâu chú rể thắp hương báo với tổ tiên. Nhiều nhà có thêm phần chú rể trao nhẫn hoặc hoa cho cô dâu, cô dâu chào họ hàng nhà trai. Hai bên thường bàn luôn ngày cưới.
Lại quả
Nhà gái giữ lại một phần lễ vật để chia biếu họ hàng, phần còn lại gửi trả nhà trai, gọi là lại quả. Ý là có đi có lại, hai nhà cùng chung niềm vui.
Khoảng cách từ đính hôn đến cưới không có lệ cố định: có nhà cách vài tháng, có nhà gộp hai lễ trong một, hai ngày liền nhau để đỡ tốn kém cho khách ở xa.
Người Nam Bộ gọi chiếc nhẫn trao trong lễ là cà rá, tức chiếc nhẫn, một từ cũ còn giữ trong lời má dặn con.
Khi đứng làm lễ hay chụp ảnh, chú rể thường ở bên trái, cô dâu bên phải, theo lệ nam tả nữ hữu bắt nguồn từ thuyết âm dương.
Dạm ngõ, đính hôn, lễ cưới và đăng ký kết hôn
| Bước | Ý nghĩa | Ai làm |
|---|---|---|
| Dạm ngõ | Hai nhà gặp nhau lần đầu, ngỏ ý cho đôi trẻ tìm hiểu tiến tới | Nhà trai sang nhà gái, ít người, lễ đơn giản |
| Đính hôn (ăn hỏi) | Hứa gả, hứa cưới; công bố với họ hàng | Nhà trai mang tráp lễ sang, nhà gái nhận và lại quả |
| Lễ cưới | Đón dâu về nhà chồng, chính thức thành gia đình theo phong tục | Hai họ; bên nhà gái là lễ vu quy, bên nhà trai là lễ thành hôn |
| Đăng ký kết hôn | Thủ tục pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng | Hai người đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền |
Buổi gặp đầu tiên giữa hai nhà có bài riêng về nghi thức dạm ngõ ba miền. Còn ngày cô dâu từ biệt nhà mình được gọi bằng một chữ rất đẹp, giải nghĩa trong bài nghĩa chữ vu quy. Muốn biết luật quy định thế nào về quan hệ vợ chồng và tuổi kết hôn thì đọc khái niệm hôn nhân theo luật.
Băn khoăn của các cặp đôi sắp đính hôn
Đính hôn là đám hỏi hay đám cưới?
Là đám hỏi. Đây là tên gọi trang trọng của lễ ăn hỏi, làm trước đám cưới. Đám cưới là lễ đón dâu, đến sau.
Đính hôn rồi có phải là vợ chồng không?
Chưa. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có giá trị pháp lý. Lễ đính hôn thuộc về phong tục, hai người lúc này là vợ chồng sắp cưới.
Đính hôn bao lâu thì cưới?
Không có quy định nào. Tùy ngày lành hai nhà chọn, khoảng cách địa lý và điều kiện mỗi gia đình, có thể vài tuần, vài tháng, hoặc làm liền với lễ cưới.
Lễ đính hôn và lễ ăn hỏi khác nhau không?
Với người Việt, hai tên gọi này thường chỉ cùng một lễ. “Đính hôn” là từ Hán Việt, nghe trang trọng; “ăn hỏi”, “đám hỏi” là cách gọi dân gian.