Công dân toàn cầu là người vẫn mang quốc tịch, quê hương của mình nhưng tự thấy có phần trách nhiệm với những vấn đề chung của cả thế giới: môi trường, hòa bình, quyền con người, sự khác biệt văn hóa. Đây không phải một loại giấy tờ hay tư cách pháp lý. Hiểu nôm na, công dân toàn cầu (tiếng Anh: global citizen) là một thái độ sống và cách hành xử.
| Nghĩa ngắn | Người có ý thức trách nhiệm với các vấn đề chung của nhân loại |
| Tiếng Anh | Global citizen, world citizen; danh từ trừu tượng: global citizenship |
| Loại khái niệm | Khái niệm xã hội, giáo dục; không phải quốc tịch |
| Thường gặp ở | Mục tiêu giáo dục, đề nghị luận xã hội, tin tuyển dụng, diễn đàn du học |

Công dân toàn cầu: ý tưởng có từ đâu?
Ý tưởng này cũ hơn ta tưởng. Theo sách tiểu sử triết gia của Diogenes Laërtius, khi được hỏi quê ở đâu, nhà triết học Diogenes xứ Sinope (Hy Lạp cổ đại) đáp rằng ông là “công dân của thế giới”, chữ Hy Lạp là kosmopolitês. Từ chữ này mới có cosmopolitanism, chủ nghĩa thế giới.
Sang thế kỉ XXI, khái niệm được đưa vào giáo dục. Sáng kiến Global Education First do Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc khởi xướng coi việc nuôi dưỡng tinh thần công dân toàn cầu là một ưu tiên. Mục tiêu phát triển bền vững số 4, chỉ tiêu 4.7, cũng ghi rõ đến năm 2030 người học cần có kiến thức, kỹ năng về “global citizenship” bên cạnh quyền con người, bình đẳng giới, văn hóa hòa bình. Từ đó mới có tên gọi giáo dục công dân toàn cầu (GCED) mà UNESCO theo đuổi.
Ở Việt Nam, cụm từ này được nhắc nhiều trong sách báo về giáo dục và kỹ năng. Nhiều người nhấn mạnh rằng không có thước đo vật chất nào cho danh xưng này; một người chỉ nói được tiếng mẹ đẻ vẫn có thể là công dân toàn cầu, còn biết năm ngoại ngữ chưa chắc đã là.
Trước khi có chữ toàn cầu, người Việt từng nói hoàn cầu, năm châu; sự khác nhau giữa các cách gọi ấy được tách bạch ở đồng nghĩa, trái nghĩa với hoàn cầu.
Người có tinh thần công dân toàn cầu thường hành xử ra sao?
Không có bảng chấm điểm nào cả. Nhưng nhìn vào cách một người sống hằng ngày, có thể nhận ra vài nét chung:
- Tò mò và tôn trọng khi gặp phong tục, tôn giáo, món ăn, giọng nói khác mình; không vội chê “lạ” là “kỳ”.
- Biết rằng chai nhựa vứt ở bờ sông quê mình rồi cũng trôi ra biển chung, nên giữ thói quen nhỏ như mang bình nước riêng, phân loại rác.
- Đọc tin tức thế giới với con mắt kiểm chứng, không chia sẻ bừa nội dung kích động thù ghét một dân tộc hay nhóm người nào.
- Hợp tác được với người khác nền văn hóa: làm dự án nhóm trực tuyến với bạn nước ngoài, nhận lời góp ý mà không tự ái.
Điều đáng chú ý là danh sách trên không có “đi nhiều nước” hay “học trường quốc tế”. Một học sinh ở huyện miền núi tham gia dọn rác bờ suối và tìm hiểu vì sao nước sông cạn dần cũng đang thực hành tinh thần ấy.
Vì sao ai cũng bàn chuyện trở thành công dân toàn cầu?
Lý do đầu tiên là thế giới dính vào nhau chặt hơn trước. Một đợt dịch, một trận hạn hán hay giá xăng tăng ở nơi xa đều có thể chạm tới bữa cơm của một gia đình Việt. Quá trình hội nhập kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia khiến người trẻ phải hiểu thêm những gì nằm ngoài biên giới.
Lý do thứ hai đến từ học tập và việc làm. Nhiều doanh nghiệp tuyển người biết làm việc nhóm đa quốc gia, giao tiếp được bằng ngoại ngữ, hiểu khác biệt văn hóa. Các trang tuyển dụng vì thế hay dùng “tư duy công dân toàn cầu” như một tiêu chí.
Mặt trái cũng có. Khi bị hiểu sai, khẩu hiệu này dễ thành cái cớ để sính ngoại, coi nhẹ tiếng mẹ đẻ và phong tục quê nhà. Lại có người dùng chữ “công dân toàn cầu” chỉ để khoe ảnh du lịch. Cả hai cách hiểu đều lệch khỏi tinh thần ban đầu: có trách nhiệm với thế giới bắt đầu từ trách nhiệm với nơi mình đang sống.
Có hộ chiếu nhiều nước có phải là công dân toàn cầu?
| Công dân toàn cầu | Người có nhiều quốc tịch | Người hay đi du lịch nước ngoài | |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Thái độ, giá trị sống | Tư cách pháp lý ghi trên giấy tờ | Trải nghiệm, sở thích |
| Cần giấy tờ không? | Không | Có, theo luật từng nước | Cần hộ chiếu, thị thực |
| Ai cũng có thể là? | Có, ở bất cứ đâu | Không, tùy điều kiện pháp lý | Tùy điều kiện kinh tế |
| Ví dụ | Học sinh vận động cả lớp giảm rác nhựa | Người mang hai quốc tịch theo luật | Bạn trẻ đi phượt năm nước Đông Nam Á |
Ba nhóm có thể trùng nhau ở một người, nhưng không nhóm nào tự động kéo theo nhóm kia.
Gợi ý khi gặp đề nghị luận về công dân toàn cầu
Đề kiểu “Suy nghĩ của em về việc trở thành công dân toàn cầu” xuất hiện khá nhiều ở cấp THCS và THPT. Một dàn ý gọn có thể đi theo ba luận điểm:
- Giải thích: công dân toàn cầu là ai, nhấn mạnh đây là phẩm chất chứ không phải quốc tịch.
- Bàn luận: vì sao cần (thế giới phụ thuộc lẫn nhau, thách thức chung như biến đổi khí hậu); dẫn chứng là các hoạt động tình nguyện môi trường, phong trào trao đổi học sinh; phê phán lối sính ngoại, mất gốc.
- Liên hệ: giữ những nét riêng làm nên văn hóa Việt trong khi mở lòng với thế giới; việc nhỏ em có thể làm ngay.
Muốn có thêm lý lẽ, học sinh lớp 12 có thể đọc lại bài soạn về hội nhập và giữ bản sắc. Chủ đề phát triển mà không vay mượn của thế hệ sau cũng là nguồn dẫn chứng hợp.
Trước khi tự nhận mình là công dân toàn cầu
Công dân toàn cầu tiếng Anh là gì?
Là global citizen, đôi khi gặp world citizen. Khi nói về tinh thần hay chương trình giáo dục, người ta dùng global citizenship và global citizenship education.
Phẩm chất của công dân toàn cầu gồm những gì?
Thường được nhắc là hiểu biết về thế giới, tôn trọng khác biệt, ý thức trách nhiệm với môi trường và cộng đồng, khả năng hợp tác. Ngoại ngữ và kỹ năng số là công cụ hỗ trợ, không phải điều kiện bắt buộc.
Học sinh làm gì để trở thành công dân toàn cầu?
Bắt đầu từ việc trong tầm tay: đọc tin quốc tế từ nguồn đáng tin, học thêm một ngoại ngữ, tham gia hoạt động vì môi trường ở trường, cư xử lịch sự trên mạng. Song song, hiểu kỹ lịch sử và văn hóa quê mình để có cái mà giới thiệu với bạn bè năm châu.
Là công dân toàn cầu có phải bỏ quốc tịch Việt Nam không?
Không. Công dân toàn cầu không phải một quốc tịch nên không thay thế hay xung đột với quốc tịch nào. Người Việt yêu quê hương vẫn hoàn toàn có thể mang tinh thần công dân toàn cầu.