Chơi chữ là biện pháp tu từ dựa vào đặc điểm về âm và về nghĩa của từ ngữ (đồng âm, gần âm, nói lái, đồng nghĩa, trái nghĩa…) để tạo nên cách hiểu bất ngờ, khiến câu nói dí dỏm, hài hước hoặc châm biếm kín đáo. Lối này có mặt trong câu đố, câu đối, ca dao, thơ trào phúng, và cả tên quán, câu quảng cáo hay meme trên mạng.
| Khái niệm | Biện pháp tu từ lợi dụng âm và nghĩa của từ để tạo nghĩa thứ hai bất ngờ |
| Thuộc | Biện pháp tu từ từ vựng, cùng nhóm với ẩn dụ, hoán dụ, nói quá |
| Dấu hiệu nhận biết | Một chữ, một âm có thể đọc theo hai cách hiểu cùng lúc |
| Tác dụng | Gây cười, tạo sự thú vị, châm biếm nhẹ nhàng mà sâu cay |
| Học ở | Ngữ văn 9 (Kết nối tri thức, tập một); trước đây ở Ngữ văn 7 chương trình cũ |

Chơi chữ: một chữ, hai cách hiểu
Gọi là “chơi” vì người dùng đang đùa với chính chất liệu ngôn ngữ. Tiếng Việt có rất nhiều từ cùng âm khác nghĩa, nhiều âm tiết đảo vần ra được một từ khác, nhiều yếu tố Hán Việt trùng âm với từ thuần Việt. Người khéo nói chỉ cần đặt một chữ vào đúng chỗ là người nghe phải dừng lại, nghĩ thêm một nhịp, rồi bật cười.
Sách giáo khoa Ngữ văn trước đây và tài liệu theo chương trình 2018 diễn đạt khác nhau đôi chút, nhưng cùng chung ý: chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước, làm câu văn hấp dẫn và thú vị. Ở bộ Kết nối tri thức, bài Thực hành tiếng Việt về chơi chữ của Ngữ văn 9 tập một đưa ra cả loạt ví dụ từ tục ngữ, câu đối tới ca dao để học sinh chỉ ra cách chơi và nêu tác dụng.
Một ví dụ quen thuộc là câu tục ngữ Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. Chữ “chín” đầu là thành thạo, chữ “chín” sau là con số. Đổi một trong hai chữ đi thì câu vẫn đúng ý nhưng mất hẳn cái duyên.
Năm lối chơi chữ thường gặp
| Lối chơi | Cách làm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Dùng từ đồng âm | Một âm mang hai nghĩa khác hẳn nhau | Con ngựa đá con ngựa đá |
| Dùng từ gần âm (trại âm) | Hai chữ chỉ lệch nhau một chút về âm | tài – tai |
| Điệp âm | Lặp một phụ âm đầu qua nhiều tiếng liền nhau | Mẹ mua mấy mớ mướp mới |
| Nói lái | Đảo vần, đảo thanh của hai tiếng để ra từ khác | cá đối – cối đá |
| Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa, cùng trường nghĩa | Gài nhiều chữ cùng một nhóm nghĩa vào câu | bánh ít mà cả thúng; trầu không mà cả khay |
Lối đồng âm phổ biến nhất, vì lớp từ đồng âm trong tiếng Việt nhiều vô kể. Điệp âm thì thiên về tạo nhạc và gây cười hơn là tạo nghĩa hai tầng; câu “Mẹ mua mấy mớ mướp mới” ở bảng trên là câu tự đặt, chỉ để thấy cách lặp âm “m”.
Chơi chữ trong ca dao, câu đối và thơ Nguyễn Du
Câu đối đồng âm của con ngựa đá
Vế đối cổ Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa nổi tiếng vì khó đối. Chữ “đá” khi là động từ (dùng chân hất mạnh), khi là danh từ (chất liệu tạc tượng). Cả câu xoay quanh hai con ngựa, một con thật một con tượng, và người đọc phải tự gỡ từng chữ mới thấy câu hoàn toàn hợp lý.
Thầy bói và chữ lợi
Một bài ca dao kể bà lão đi xem bói hỏi lấy chồng có lợi chăng, thầy phán “lợi thì có” nhưng “răng chẳng còn”. Chữ “lợi” bà hỏi là lợi lộc; chữ “lợi” thầy đáp là phần thịt bọc chân răng. Tiếng cười nhắm vào chuyện già còn đòi lấy chồng, nhưng nhờ chơi chữ nên lời chế giễu nghe hóm hỉnh chứ không cay độc.
Chữ tài liền với chữ tai
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Ở gần cuối Truyện Kiều, Nguyễn Du đặt “tài” cạnh “tai” (tai họa). Hai chữ chỉ khác nhau dấu huyền, cùng vần “ai”, nên dễ gợi ý tài năng và tai họa hay đi liền nhau. Đây là chơi chữ gần âm, nhưng không nhằm gây cười; nó gói một suy ngẫm về số phận người tài. Các bài viết về điển tích, điển cố trong Truyện Kiều cho thấy Nguyễn Du dùng chữ kỹ lưỡng như thế ở rất nhiều câu.
Chơi chữ trên mạng xã hội
Lối chơi này sống rất khỏe ngoài sách vở. Tên quán, khẩu hiệu quảng cáo, caption mạng xã hội đều hay mượn đồng âm, cả đồng âm khác thứ tiếng. Cụm vitamin sea của người mê biển là ví dụ: “sea” đọc giống chữ C, thành “vitamin C” mà nghĩa lại là biển.
Làm sao biết một câu đang chơi chữ?
- Tìm chữ có hai nghĩa cùng sống trong câu. Nếu chỉ hiểu một nghĩa thì câu vẫn trọn, nhưng hiểu cả hai thì câu mới “có miếng”. Chữ “đậu” trong “ruồi đậu mâm xôi đậu” là ví dụ.
- Đọc lái thử những cặp tiếng lạ tai. Khi một cặp từ đặt vào câu nghe hơi gượng, rất có thể người viết đang giấu một từ nói lái.
- Xem các chữ có cùng một trường nghĩa không. Năm, bảy chữ chỉ mùa, chỉ con vật, chỉ món ăn xuất hiện dày đặc trong hai dòng thì thường không phải ngẫu nhiên.
- Hỏi xem câu có gây bất ngờ không. Chơi chữ luôn có độ vênh giữa nghĩa thoạt nghe và nghĩa thật. Không có độ vênh ấy thì chỉ là dùng từ bình thường.
Chơi chữ khác từ đa nghĩa và nói quá ở đâu?
| Tiêu chí | Chơi chữ | Hiện tượng dễ nhầm |
|---|---|---|
| Với từ đồng âm | Cố ý đặt hai nghĩa cạnh nhau để gây bất ngờ | Từ đồng âm chỉ là hiện tượng của từ vựng, có sẵn trong ngôn ngữ |
| Với tính đa nghĩa của bài thơ | Thường gói trong một chữ, một cặp chữ | Đa nghĩa trải ra cả hình tượng, cả bài, như Bánh trôi nước |
| Với nói quá | Dựa vào âm và nghĩa của từ | Phóng đại quy mô, mức độ sự việc |
| Với trào phúng | Là một kĩ thuật | Là cả một giọng điệu, có thể dùng chơi chữ hoặc không |
Với bài Bánh trôi nước, cái hay nằm ở hai tầng nghĩa của cả hình ảnh chiếc bánh và thân phận người phụ nữ; SGK Chân trời sáng tạo có hẳn một văn bản bàn về chuyện này, xem soạn Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước. Còn muốn đặt chơi chữ cạnh toàn bộ các phép tu từ khác để so, có thể mở bảng tổng hợp các phép tu từ.
Thử tay với năm câu chơi chữ
Câu 1: Chỉ ra lối chơi chữ trong câu “Ruồi đậu mâm xôi đậu, kiến bò đĩa thịt bò”.
Đáp án: Dùng từ đồng âm. “Đậu” thứ nhất là động từ (đậu xuống), “đậu” thứ hai là danh từ (hạt đậu trong xôi). “Bò” thứ nhất là động từ (kiến bò), “bò” thứ hai là danh từ (thịt bò). Câu tạo nhịp đối cân và gây cười nhờ hai cặp chữ lặp mà khác nghĩa.
Câu 2: Tìm các cặp nói lái trong câu ca dao “Con cá đối bỏ trong cối đá, con mèo cái nằm trên mái kèo”.
Đáp án: “Cá đối” nói lái thành “cối đá”; “mèo cái” nói lái thành “mái kèo”. Lối nói lái làm câu ca dao vui tai, và nhấn vào cảnh nghèo trong phần tiếp theo của bài.
Câu 3: Hai dòng “Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít? / Trầu cả khay sao dám gọi trầu không?” chơi chữ theo cách nào?
Đáp án: Dùng từ trái nghĩa kết hợp đồng âm. “Bánh ít” và “trầu không” là tên gọi của bánh, của lá trầu; nhưng “ít” đứng cạnh “cả thúng”, “không” đứng cạnh “cả khay” thì lại thành cặp nghĩa ngược nhau (ít – nhiều, không – có). Câu hỏi vặn tạo sự hóm hỉnh.
Câu 4: Câu “Chữ tài liền với chữ tai một vần” dùng lối chơi chữ nào, tác dụng ra sao?
Đáp án: Lối gần âm: “tài” và “tai” cùng vần, chỉ khác thanh. Tác dụng là gợi mối liên hệ giữa tài năng và tai họa, thể hiện quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nguyễn Du một cách cô đọng, dễ nhớ.
Câu 5: Đặt một câu có chơi chữ với từ “đường”.
Đáp án tham khảo: Cô bán chè bảo: “Đường nhiều quá thì ngọt, đường xa quá thì mỏi, chỉ có đường về nhà là không bao giờ thừa.” “Đường” trong vế đầu là đường ăn, ở hai vế sau là đường đi; câu vừa vui vừa có chút tình.
Chơi chữ trong bài kiểm tra và ngoài đời
Biện pháp chơi chữ là gì, có phải biện pháp tu từ không?
Có. Chơi chữ được xếp vào các biện pháp tu từ từ vựng, học cùng ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, điệp ngữ. Khi làm bài đọc hiểu, cần gọi đúng tên “biện pháp tu từ chơi chữ” và chỉ rõ lối chơi cụ thể.
Chơi chữ có tác dụng gì?
Tạo tiếng cười hoặc sự thú vị, giúp lời nói dễ nhớ; trong thơ trào phúng, chơi chữ còn là cách châm biếm kín đáo. Khi nêu tác dụng, nên nói cụ thể nghĩa thứ hai mà chữ đó gợi ra, đừng chỉ ghi “làm câu văn hay hơn”.
Các lối chơi chữ thường gặp là những lối nào?
Dùng từ đồng âm, dùng từ gần âm, điệp âm, nói lái, dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường nghĩa. Một câu có thể kết hợp hai lối cùng lúc.
Chơi chữ tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là pun hoặc wordplay. Pun gần với lối dùng từ đồng âm, gần âm của tiếng Việt; wordplay rộng hơn, gồm cả các trò đảo chữ, ghép chữ.