Điệp âm là một phép tu từ về mặt âm thanh: người viết cố ý lặp lại một yếu tố âm thanh (phụ âm đầu, vần hoặc thanh điệu) ở các tiếng gần nhau để câu văn, câu thơ có nhạc và gợi cảm hơn. Điệp vần là một dạng của nó: lặp lại phần vần, như “Lơ thơ tơ liễu buông mành” lặp vần “ơ”. Ba dạng hay gặp là điệp phụ âm đầu, điệp vần và điệp thanh.
| Khái niệm | Lặp có chủ ý phụ âm đầu, vần hoặc thanh điệu để tạo hiệu quả âm thanh và biểu cảm |
| Thuộc | Nhóm biện pháp tu từ ngữ âm (cùng nhóm với điệp thanh, tượng thanh) |
| Dấu hiệu nhận biết | Đọc to thấy một âm, một vần hoặc một loại thanh trở đi trở lại dày đặc trong câu |
| Tác dụng | Tăng nhạc tính, gợi hình ảnh, gợi cảm xúc, nhấn mạnh ý |
| Tên tiếng Anh gần nghĩa | alliteration (lặp phụ âm đầu), assonance (lặp nguyên âm, vần) |

Điệp âm là lặp lại cái gì?
Mỗi tiếng trong tiếng Việt có ba phần nghe được: phụ âm đầu (chữ l trong lơ), vần (ơ) và thanh điệu (thanh ngang). Điệp âm là khi nhà thơ cố tình cho một trong ba phần ấy vang lên nhiều lần trong một câu hay vài câu liền nhau. Ý chính nằm ở chữ “cố ý”: âm được lặp lại không phải do tình cờ, mà để tai người đọc bắt được và cảm thấy một điều gì đó.
Tên gọi có hai cách dùng, học sinh nên biết cả hai để khỏi bối rối khi đọc tài liệu khác nhau:
- Nghĩa rộng: điệp âm là tên chung cho mọi kiểu lặp âm thanh, gồm điệp phụ âm đầu, điệp vần và điệp thanh.
- Nghĩa hẹp: điệp âm chỉ riêng việc lặp phụ âm đầu; khi đó nó đứng ngang hàng với điệp vần và điệp thanh.
Các đề thi thường gọi thẳng tên dạng (điệp vần, điệp thanh), nên khi trả lời cứ ghi rõ dạng nào là an toàn nhất. Nếu cần ôn lại cấu tạo của một tiếng, bài ngữ âm và cấu tạo âm tiết tiếng Việt trình bày kĩ phụ âm đầu, vần và thanh.
Lặp phụ âm đầu, lặp vần, lặp thanh
| Dạng | Cái được lặp | Ví dụ (tự đặt hoặc trích) | Cảm giác thường gợi ra |
|---|---|---|---|
| Điệp phụ âm đầu | Âm đầu của nhiều tiếng | “Lom khom dưới núi… / Lác đác bên sông…” (lặp l ở đầu hai câu) | Âm l, m, n nghe mềm, êm; âm r, tr, ch, kh nghe gắt, gồ ghề |
| Điệp vần | Phần vần của nhiều tiếng | “Lơ thơ tơ liễu buông mành” (vần ơ) | Âm hưởng ngân, liền mạch; vần mở gợi rộng, vần khép gợi nhỏ, hẹp |
| Điệp thanh | Cùng một nhóm thanh (bằng hoặc trắc) | “Trăng lên trên sông dài mênh mang” (toàn thanh bằng) | Thanh bằng: êm, chậm, lâng lâng; thanh trắc: dồn dập, trúc trắc |
Ba dạng hay đi cùng nhau trong một câu thơ hay. “Lơ thơ tơ liễu” vừa lặp vần ơ, vừa toàn thanh ngang, nên đọc lên nghe nhẹ như sợi tơ. Về chuyện thanh bằng, thanh trắc, có thể xem bài sáu thanh tiếng Việt và luật bằng trắc.
Điệp vần, điệp âm trong Truyện Kiều và thơ Nôm
Vần “ơ” mảnh như tơ liễu
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Đây là cảnh Kim Trọng tìm đến chỗ ở của Kiều mà không gặp. Ba tiếng lơ, thơ, tơ liền nhau cùng vần ơ, một vần mở, nhẹ, khiến người đọc như thấy những sợi liễu thưa rủ xuống. Âm thanh mỏng manh ấy cũng hợp với tâm trạng ngẩn ngơ, trống vắng của chàng trai đứng trước khu vườn kín cổng.
Vần “eo” trong Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Cả bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến gieo vần eo (veo, teo, vèo, teo, bèo), lại thêm lẽo, tẻo nằm giữa câu. Vần eo là vần khép, đọc lên miệng hẹp lại, rất hợp để gợi cái nhỏ, cái tĩnh: ao nhỏ, thuyền bé, ngõ vắng. Ở đây vần vừa là chỗ gieo vần theo luật, vừa được lặp dày hơn mức luật đòi hỏi, nên các sách thường nhắc tới như một ví dụ của điệp vần. Bài soạn bài Câu cá mùa thu theo SGK Kết nối có phân tích thêm cách vần này tạo không khí cho cả bài.
Phụ âm “l” mở đầu hai câu thực
Trong Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan mở hai câu thực bằng lom khom và lác đác. Hai từ láy cùng bắt đầu bằng âm l, đặt song song đầu câu, tạo nhịp đều mà buồn, khớp với cảnh người thưa, chợ vắng. Ví dụ này cho thấy điệp âm hay đi cùng từ láy và phép đối; bài hướng dẫn đọc Qua Đèo Ngang lớp 8 giải thích phép đối ở cặp câu này.
Nhận ra điệp âm, điệp vần trong một đoạn thơ
- Đọc to, chậm. Điệp âm là chuyện của tai trước khi là chuyện của mắt. Âm nào cứ lặp lại, lưỡi và môi sẽ “vấp” vào nó.
- Gạch chân phần lặp. Tách từng tiếng thành phụ âm đầu, vần, thanh rồi đánh dấu. Ba lần trở lên trong một câu, hoặc lặp có hệ thống qua nhiều câu, mới đáng gọi là biện pháp tu từ.
- Loại trừ phần bắt buộc. Thơ nào cũng có vần chân theo luật; chỉ hai tiếng cuối câu hiệp vần với nhau thì đó là gieo vần, chưa phải điệp vần. Muốn phân biệt rõ, xem bài vần chân, vần lưng và cách gieo vần.
- Hỏi “để làm gì?”. Âm lặp phải gợi ra được một hình ảnh, cảm giác hay nhấn một ý. Nêu tác dụng là phần chiếm điểm nhiều nhất trong câu hỏi đọc hiểu.
Khi viết phần tác dụng, có thể đi theo khung ba ý: âm được lặp là gì; âm ấy gợi cảm giác gì (êm, gắt, ngân, khép); cảm giác ấy giúp diễn tả cảnh hay tình gì trong bài.
Đặt điệp âm cạnh điệp ngữ, từ láy và gieo vần
| Hiện tượng | Lặp cái gì | Ví dụ ngắn | Khác điệp âm ở chỗ |
|---|---|---|---|
| Điệp ngữ | Cả một từ, một cụm từ | “Nhớ sao… nhớ sao…” | Lặp đơn vị có nghĩa, không chỉ lặp âm |
| Từ láy | Âm giữa các tiếng trong một từ | lom khom, long lanh | Là cách cấu tạo từ; điệp âm là cách tổ chức cả câu |
| Gieo vần | Vần ở vị trí luật định | Tiếng cuối câu lục và tiếng thứ sáu câu bát | Bắt buộc theo thể thơ; điệp vần là lặp thêm, có chủ ý |
| Tượng thanh | Mô phỏng tiếng động thật | róc rách, ào ào | Bắt chước âm ngoài đời; điệp âm có thể không mô phỏng gì |
Điệp ngữ có bài riêng để so: ba dạng điệp ngữ và tác dụng. Bức tranh chung về các phép tu từ ngữ âm, từ vựng, cú pháp nằm ở bài phép tu từ nhìn theo ba nhóm lớn.
Bài tập nhận diện điệp âm, điệp vần
Câu 1: Chỉ ra phép điệp vần trong câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành” và nêu tác dụng.
Đáp án: Ba tiếng lơ, thơ, tơ cùng vần ơ. Vần mở, nhẹ, lặp liền nhau gợi dáng tơ liễu mảnh, thưa, rủ xuống, đồng thời gợi tâm trạng ngẩn ngơ, trống trải của Kim Trọng khi không gặp Kiều.
Câu 2: Bài Thu điếu gieo vần gì, và vì sao vần ấy hợp với cảnh?
Đáp án: Vần eo (veo, teo, vèo, teo, bèo), có thêm lẽo, tẻo trong câu. Đây là vần khép, gợi cảm giác thu nhỏ, tĩnh lặng, hợp với cảnh ao thu nhỏ, chiếc thuyền bé, ngõ trúc vắng và tâm trạng cô quạnh của nhà thơ.
Câu 3: Câu “Trăng lên trên sông dài mênh mang” dùng dạng điệp nào?
Đáp án: Điệp thanh: cả bảy tiếng đều thanh bằng (ngang, huyền). Chuỗi thanh bằng làm câu đọc êm, chậm, gợi không gian rộng và yên.
Câu 4: Phân biệt: trong hai câu sau, câu nào có điệp âm, câu nào chỉ có từ láy? a) “Gió rít rào rạt trên rặng tre.” b) “Bé đi lững thững về nhà.”
Đáp án: Câu a có điệp phụ âm đầu r lặp ở bốn tiếng (rít, rào, rạt, rặng), gợi tiếng gió mạnh, gắt. Câu b chỉ có một từ láy lững thững; âm l không lan ra các tiếng khác nên chưa thành phép điệp âm của câu.
Câu 5: Tự viết một câu thơ có điệp vần gợi cảnh mưa.
Đáp án tham khảo: “Mưa giăng ngang trắng cả đồng làng.” Vần ang ở ngang, làng đi cùng vần ăng rất gần âm ở giăng, trắng, tạo âm hưởng kéo dài, mênh mang như màn mưa phủ rộng.
Chi tiết đáng nhớ nhất của cả bài: cùng là lặp âm, nhưng âm l trong “lơ thơ” cho cảm giác mềm, còn âm r trong “rít rào rạt” nghe như gió quất. Tác dụng của điệp âm luôn nằm ở chính âm được chọn.
Điệp vần, điệp thanh và tác dụng khi làm bài
Điệp vần là gì, khác điệp âm chỗ nào?
Điệp vần là lặp phần vần của nhiều tiếng gần nhau, như vần ơ trong “lơ thơ tơ”. Nếu hiểu điệp âm theo nghĩa rộng thì điệp vần là một dạng của điệp âm; nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì điệp âm lặp phụ âm đầu, còn điệp vần lặp vần.
Điệp âm điệp vần là gì trong cùng một đề bài?
Khi đề ghi “điệp âm, điệp vần”, người ra đề muốn học sinh nhận ra hiện tượng lặp âm thanh và gọi đúng dạng: lặp phụ âm đầu hay lặp vần. Câu trả lời nên chỉ rõ tiếng nào, âm nào được lặp, rồi mới nêu tác dụng.
Điệp thanh là gì?
Điệp thanh là lặp các thanh cùng nhóm, toàn bằng hoặc toàn trắc, trong một câu hay một đoạn. Thanh bằng liên tiếp tạo cảm giác êm, nhẹ, kéo dài; thanh trắc liên tiếp gợi sự gập ghềnh, mạnh, căng.
Tác dụng của điệp vần thường viết thế nào?
Nêu ba lớp: tạo nhạc tính, sự liền mạch cho câu thơ; gợi hình ảnh hay cảm giác cụ thể nhờ đặc điểm của vần (mở, khép, ngân); qua đó thể hiện cảm xúc của chủ thể trữ tình. Tránh chỉ viết “làm câu thơ hay hơn”, vì câu ấy đúng với mọi biện pháp nên gần như không được điểm.