Điển tích điển cố là những câu chuyện, sự việc hay câu chữ có trong sách xưa được các tác giả đời sau dẫn lại thật cô đọng, chỉ bằng vài chữ, để gợi cả một tầng nghĩa. Điển tích thiên về một câu chuyện, điển cố thiên về một sự việc hoặc một lời nói gốc; hai khái niệm thường được gọi chung là điển. Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm dùng điển rất dày.
| Khái niệm | Chuyện cũ, sự việc hay câu chữ trong sách xưa được dẫn lại súc tích trong thơ văn đời sau |
| Chữ Hán | điển: sách vở, phép tắc; tích: dấu vết, chuyện cũ; cố: cũ, việc đã qua |
| Dấu hiệu nhận biết | Vài chữ ngắn mà phía sau là một câu chuyện, một nhân vật, một câu thơ cổ; đọc theo nghĩa đen thì khó hiểu |
| Hay gặp ở | Văn học trung đại, thành ngữ gốc Hán, câu đối, văn tế |
| Học ở | Thực hành tiếng Việt Ngữ văn 9 Cánh diều; các bài đọc Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm |

Điển tích điển cố hiểu thế nào cho đúng?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) tách hai mục riêng. Mục điển tích nói về chuyện kể của sách đời trước, nay được nhắc lại thật gọn trong tác phẩm. Mục điển cố nói về sự việc hoặc lời chữ của sách đời trước, được mượn lại ngắn gọn trong thơ văn. Sách Ngữ văn 9 bộ Cánh diều hiểu gần như thế và lưu ý rằng ranh giới giữa hai loại không thật rạch ròi.
Điểm chung của cả hai là cách dùng: không kể lại, chỉ nhắc. Nhà thơ đặt vào câu một cái tên, một hình ảnh, và tin rằng người đọc cùng thời đã thuộc câu chuyện gốc. Văn chương trung đại coi việc dùng điển là thước đo học vấn; người viết giỏi là người gài điển khéo, người đọc giỏi là người nhận ra điển.
Vì người đọc ngày nay không còn thuộc sách xưa, SGK phải chú thích từng điển ở chân trang. Thói quen đọc chú thích trước khi đọc đoạn thơ trung đại là bước đầu tiên để hiểu đúng.
Đặt điển tích và điển cố cạnh nhau
| Tiêu chí | Điển tích | Điển cố |
|---|---|---|
| Gốc là | Một câu chuyện có nhân vật, có diễn biến | Một sự việc, một câu nói, câu thơ, câu kinh |
| Khi dẫn lại | Rút cả câu chuyện thành một tên gọi, một hình ảnh | Mượn nguyên ý hoặc vài chữ của lời gốc |
| Ví dụ | Bá Nha – Tử Kỳ (tri âm); Tái ông mất ngựa; Ngưu Lang Chức Nữ | Bể dâu (lời Ma Cô kể biển hóa ruộng dâu); da ngựa bọc thây (lời Mã Viện); Thái Sơn – hồng mao (lời Tư Mã Thiên) |
| Muốn hiểu phải | Biết cốt truyện để rút bài học | Biết câu gốc để hiểu ý được vay |
Nhiều trường hợp nằm giữa hai loại. “Sân Lai” vừa gợi chuyện Lão Lai Tử múa hát làm vui cha mẹ (một câu chuyện), vừa chỉ vắn tắt một việc làm (một sự việc). Việc phân biệt điển tích và điển cố vì thế chỉ cần ở mức nắm ý; đề thi thường hỏi chung “điển tích, điển cố” và chấp nhận cả hai cách gọi.
Có điển đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày thành thành ngữ: tái ông thất mã, ông tơ bà nguyệt, lá thắm chỉ hồng. Cách các cụm cố định ấy hình thành có trong bài thành ngữ và những cụm từ cố định quen dùng. Một điển rất quen với học sinh là chuyện Bá Nha đập đàn khi Tử Kỳ mất, gốc của hai chữ tri âm, kể chi tiết ở bài tri âm và câu chuyện tiếng đàn Bá Nha.
Đọc điển trong Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm
“Bể dâu” ở câu thứ ba Truyện Kiều. Ngay phần mở đầu, Nguyễn Du viết:
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Chữ “bể dâu” rút từ chuyện tiên nữ Ma Cô trong sách xưa Trung Hoa, kể rằng bà đã ba lần thấy biển xanh hóa thành ruộng dâu. Hai chữ gợi cả một quãng đời đầy biến động. Không cần kể chiến tranh hay loạn lạc, nhà thơ cho người đọc thấy ngay một thời thế đổi thay dữ dội, và nỗi đau của người chứng kiến.
“Sân Lai” và “gốc tử” khi Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
“Sân Lai” gợi Lão Lai Tử, người đã già vẫn mặc áo sặc sỡ, làm trò trẻ con cho cha mẹ vui. “Gốc tử” thường được chú thích là hình ảnh chỉ cha mẹ, quê nhà. Hai điển đặt cạnh nhau cho thấy nỗi day dứt của người con không được phụng dưỡng cha mẹ, và nỗi lo thời gian trôi, cây đã lớn bằng vòng tay ôm mà cha mẹ thêm già. Bối cảnh đoạn thơ có trong bài tìm hiểu đoạn trích Kiều bị giam ở lầu Ngưng Bích.
Truyện Kiều còn nhiều điển khác: “mắt xanh” trong lời Từ Hải hỏi Kiều gợi chuyện Nguyễn Tịch đời Tấn nhìn người mình quý bằng tròng mắt xanh; “nghiêng nước nghiêng thành” để tả sắc đẹp của Thúy Kiều cũng có gốc từ văn chương cổ Trung Hoa.
Chí làm trai trong Chinh phụ ngâm. Bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm có đoạn tả người chồng ra trận, theo bản in trong sách Cánh diều:
Chí làm trai dặm ngàn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Câu trên mượn ý của danh tướng Mã Viện đời Hán: làm trai nên chết nơi chiến trường, lấy da ngựa bọc thây. Câu dưới mượn lời Tư Mã Thiên: có cái chết nặng như núi Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông chim hồng. Ghép lại, hai câu khẳng định người trai coi nhẹ cái chết vì nghĩa lớn. Một số bản chép câu dưới khác vài chữ (“bằng độ hồng mao”) nhưng ý không đổi. Phần đọc hiểu đoạn trích ấy có ở bài soạn đoạn người chinh phụ cô đơn chờ chồng.
Gài một điển vào câu thơ để được gì
- Nói ít mà gợi nhiều. Hai chữ “bể dâu” thay cho cả một đoạn tả thời loạn. Thơ trung đại vốn ngắn, luật chặt, nên điển giúp dồn nén ý.
- Trang trọng, nhã. Nói “sân Lai” nghe kín đáo và đẹp hơn “nhà bố mẹ”. Văn tế, câu đối, thư từ xưa vì thế rất chuộng điển.
- Nói được điều khó nói thẳng. Người phụ nữ xưa không tiện bày tỏ trực tiếp; mượn điển là cách giãi lòng mà vẫn giữ ý.
- Thêm sức nặng cho lí lẽ. Trong văn nghị luận trung đại, dẫn gương người xưa là một kiểu bằng chứng, khiến lời bàn có căn cứ.
Mặt trái cũng có: điển dày quá thì văn khó đọc, chỉ người học nhiều mới hiểu. Văn học hiện đại vì thế dùng điển thưa hơn, và thường dùng những điển đã thành quen thuộc.
Thử nhận diện và giải nghĩa điển
Câu 1: Cụm “bể dâu” trong câu “Trải qua một cuộc bể dâu” là điển tích hay điển cố? Nghĩa của nó là gì?
Đáp án: Thường được xếp là điển cố, rút từ lời tiên nữ Ma Cô kể đã thấy biển hóa ruộng dâu. Nghĩa là những đổi thay lớn lao, dữ dội của cuộc đời, thời thế.
Câu 2: Khi nói “Hai bạn ấy là tri âm của nhau”, người nói đã dùng điển nào?
Đáp án: Điển tích Bá Nha – Tử Kỳ. Tử Kỳ nghe tiếng đàn là hiểu lòng Bá Nha, nên “tri âm” chỉ người bạn hiểu mình sâu sắc.
Câu 3: Nêu tác dụng của điển “Sân Lai” trong hai câu “Sân Lai cách mấy nắng mưa, / Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.
Đáp án: Điển giúp lời thơ trang trọng, kín đáo, đồng thời ngầm so Kiều với tấm gương hiếu thảo xưa, làm nổi bật nỗi day dứt vì không được ở bên chăm sóc cha mẹ.
Câu 4: Câu thành ngữ “Tái ông mất ngựa” bắt nguồn từ đâu và khuyên điều gì?
Đáp án: Từ chuyện ông lão ở vùng biên ải: mất ngựa tưởng xui thì ngựa về dắt thêm ngựa quý, được ngựa tưởng may thì con trai cưỡi ngã gãy chân, gãy chân lại thoát cảnh đi lính. Thành ngữ khuyên bình tĩnh, vì họa phúc khó lường.
Học sinh hỏi gì khi gặp điển trong bài đọc?
Điển cố là gì, nói gọn?
Điển cố là sự việc hoặc câu chữ trong sách xưa được người viết đời sau dẫn lại ngắn gọn để gợi ý nghĩa. Ví dụ “da ngựa bọc thây” mượn lời của Mã Viện.
Điển tích là gì, khác điển cố thế nào?
Điển tích là một câu chuyện xưa được nhắc lại bằng vài chữ, như “Bá Nha – Tử Kỳ”, “Ngưu Lang Chức Nữ”. Điển cố thiên về sự việc hay câu nói. Hai khái niệm rất gần, nhiều khi gọi chung là điển.
Có những ví dụ điển tích trong Truyện Kiều nào dễ nhớ?
Dễ nhớ nhất là “bể dâu” ở phần mở đầu, “sân Lai”, “gốc tử” ở đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, “mắt xanh” trong lời Từ Hải. Mỗi điển chỉ hai, ba chữ nhưng gợi cả một câu chuyện cũ.
Làm sao nhận ra một chữ là điển khi đọc bài thơ?
Khi một cụm từ đọc theo nghĩa đen thấy lạ hoặc vô lí (biển với ruộng dâu, da ngựa, lông hồng), rất có thể đó là điển. Tra chú thích SGK hoặc từ điển điển cố để biết câu chuyện gốc rồi mới giải nghĩa.