Vô thức là những gì diễn ra trong tâm trí mà chính mình không nhận ra, không kiểm soát được bằng ý muốn, nhưng vẫn chi phối cách ta nghĩ, nói và làm. Từ này có hai cách dùng: tính từ (một hành động vô thức là hành động làm mà không để ý) và danh từ (cõi vô thức, phần chìm của đời sống tinh thần mà tâm lý học bàn tới).
| Nghĩa ngắn | Nằm ngoài ý thức; phần tâm trí mình không tự nhận biết được |
| Gốc từ | Hán Việt 無識: vô (không) + thức (biết, nhận biết) |
| Loại từ | Tính từ và danh từ |
| Tiếng Anh | unconscious; “the unconscious” khi nói về khái niệm tâm lý học |

Vô thức, phần chìm của tâm trí
Hai chữ Hán đã nói gần hết: vô là không, thức là biết. Vô thức là “không biết”, nhưng không phải không biết gì về thế giới, mà là không biết về chính những gì đang xảy ra trong đầu mình. Từ điển tiếng Việt tách hai nghĩa. Với tính từ, đó là cái ở ngoài ý thức: một cử chỉ gần như vô thức. Với danh từ, đó là những gì có trong con người mà người ấy không nhận ra, nhưng vẫn điều khiển hành vi.
Nghĩa danh từ gắn với tâm lý học. Thuật ngữ “unconscious” có từ trước, nhưng chính Sigmund Freud và trường phái phân tâm học làm nó trở nên quen thuộc. Theo cách chia nổi tiếng của Freud, tâm trí có ba vùng: ý thức (điều ta đang nghĩ ngay lúc này), tiền ý thức (điều chưa nghĩ tới nhưng gọi ra được, như số điện thoại của mẹ) và vô thức (những ham muốn, kí ức, nỗi sợ bị đẩy xuống, không tự gọi lên được). Người ta hay minh họa bằng tảng băng trôi: phần nổi là ý thức, khối khổng lồ dưới nước là vô thức.
Vô thức, tiềm thức và ý thức đặt cạnh nhau
| Khái niệm | Mình có nhận ra không? | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ý thức | Có, đang chú ý tới | Đang đọc dòng chữ này |
| Tiềm thức (tiền ý thức) | Chưa, nhưng gọi ra được khi cần | Nhớ lại đường về nhà cũ khi có người hỏi |
| Vô thức | Không, chỉ đoán qua dấu vết | Ngại một người mà không hiểu vì sao |
Trong lời nói hằng ngày, “tiềm thức” và “vô thức” hay bị dùng như một. Sách tâm lý phổ thông thường tách: tiềm thức là kho chứa kĩ năng, thói quen, kí ức có thể trồi lên; vô thức theo nghĩa của Freud là vùng sâu hơn, bị dồn nén. Phần này được bàn kĩ hơn ở bài tầng tâm trí ngay dưới mặt nước; còn chữ đứng ở đỉnh tảng băng thì có bài giảng chữ ý thức theo nghĩa thường và nghĩa triết học.
Dấu vết vô thức trong một ngày bình thường
Vô thức không tự lên tiếng, nhưng để lại dấu vết khá dễ nhận:
- Lỡ lời. Định nói tên bạn mới mà buột ra tên người yêu cũ. Freud coi những cú trượt miệng này là cửa sổ nhìn vào điều bị dồn nén; dân gian gọi là “nói hớ”, còn tiếng Anh có hẳn cụm Freudian slip.
- Giấc mơ. Cảnh trong mơ thường lộn xộn, nhưng theo phân tâm học, chúng là mong muốn đã được “ngụy trang” để người ngủ không bị đánh thức.
- Cử chỉ tự động. Rung chân khi chờ kết quả thi, vô thức xoay bút, đi đúng con đường quen trong khi đầu óc để ở đâu đâu.
- Thích hay ghét không rõ lí do. Gặp lần đầu đã thấy mến một người, có khi chỉ vì giọng nói giống ai đó từng thương mình.
Cần nói rõ: những dấu hiệu ấy là chuyện bình thường ở mọi người, không phải triệu chứng bệnh. Nếu một nỗi sợ hay thói quen lặp lại làm mình khổ sở mà không gỡ được, nên tìm gặp chuyên gia tâm lý thay vì tự đoán.
Vì sao vô thức hình thành và kéo ta theo?
Theo Freud, nhiều điều bị đẩy vào vô thức vì quá đau hoặc quá khó chấp nhận: một nỗi xấu hổ thời nhỏ, một mong muốn trái với lời dạy của gia đình. Đẩy xuống không có nghĩa là mất đi; chúng vẫn chi phối từ bên dưới, có khi thành nỗi lo không rõ nguyên do. Nhà tâm thần học Carl Jung không đồng ý rằng mọi thứ đều quy về dồn nén cá nhân; ông cho rằng ngoài vô thức cá nhân còn có vô thức tập thể, lớp hình mẫu chung của cả loài người.
Tâm lý học nhận thức hiện nay nhìn vô thức bình thản hơn. Phần lớn việc não làm vốn diễn ra tự động để tiết kiệm sức: đọc chữ, giữ thăng bằng, đoán nét mặt người đối diện. Các nhà nghiên cứu hay dùng chữ “ngầm” hoặc “tự động” (implicit, automatic) để tránh những liên tưởng của phân tâm học. Cũng có người phê phán học thuyết Freud là khó kiểm chứng. Dù theo trường phái nào, có một điểm chung: rất nhiều quyết định của ta được chuẩn bị trước khi ta kịp nghĩ.
Khi nhà văn viết bằng vô thức
Văn chương thế kỉ XX chịu ảnh hưởng rõ của các lý thuyết về vô thức. Kĩ thuật “dòng ý thức” để nhân vật nghĩ miên man, nhảy từ kí ức này sang cảm giác khác; thơ siêu thực đưa giấc mơ và hình ảnh phi lí vào trang viết. Trong văn học Việt Nam, giấc mơ, ảo giác, những cơn hồi tưởng bất chợt của nhân vật cũng là chất liệu được khai thác, như chuyên luận bàn về giấc mơ và ám ảnh trong tiểu thuyết đương đại đã chỉ ra.
Đọc truyện mà gặp câu “chị vô thức đưa tay lên ngực áo”, nên dừng lại một nhịp. Nhà văn đang cho thấy điều nhân vật không nói ra, có khi không tự biết.
Vô thức qua mấy cách dùng quen
Hành động vô thức là gì?
Là hành động làm mà không chủ ý, không để ý mình đang làm: cắn móng tay khi căng thẳng, gõ nhịp xuống bàn, đặt chìa khóa ở một chỗ rồi quên mất. Phần lớn là thói quen đã thành tự động.
Vô thức tập thể là gì?
Là khái niệm của Carl Jung, chỉ lớp vô thức không thuộc riêng ai mà chung cho con người, chứa những hình mẫu (archetype) như người mẹ, người anh hùng, kẻ lừa lọc. Jung dùng nó để giải thích vì sao thần thoại ở những nơi xa nhau lại có mô típ giống nhau.
Vô thức và tiềm thức khác nhau thế nào?
Tiềm thức chứa những gì gọi ra được khi cần, như kĩ năng hay kí ức cũ. Vô thức, theo nghĩa phân tâm học, sâu hơn và bị dồn nén, mình không tự gọi lên mà chỉ thấy qua dấu vết như giấc mơ, lỡ lời.
Vô thức có phải là bất tỉnh không?
Không hẳn. “Bất tỉnh”, “hôn mê” là trạng thái cơ thể mất ý thức. Còn vô thức trong tâm lý học vẫn hoạt động cả khi ta tỉnh táo hoàn toàn. Tiếng Anh dùng chung chữ unconscious nên khi dịch cần nhìn ngữ cảnh.