Từ đồng nghĩa với xanh phải chọn theo nghĩa đang dùng. Nói màu lá cây thì có xanh lục, xanh lá cây; nói màu trời, màu biển thì có xanh lam, xanh dương, trong thơ là biếc. Màu sắc không có từ trái nghĩa. Từ trái nghĩa với xanh chỉ rõ ở nghĩa quả cây: quả xanh đối với quả chín. “Tuổi xanh” là tuổi trẻ, đối lại theo ngữ cảnh là tuổi già.
| Đồng nghĩa | (màu lá) xanh lục, xanh lá cây; (màu trời, biển) xanh lam, xanh dương, biếc; (quả) non; (tuổi) trẻ |
| Trái nghĩa | (quả) chín; theo ngữ cảnh: (tuổi) già, đầu bạc; (nước da) hồng hào |
| Loại từ | tính từ; xanh danh từ (cái xanh để xào nấu) là từ khác |
| Nghĩa gốc | có màu như màu lá cây hoặc màu nước biển (Hoàng Phê) |

Xanh lục hay xanh lam? Gọi tên đúng sắc xanh
Tiếng Việt dùng một chữ xanh cho cả màu lá lẫn màu trời. Muốn nói rõ thì ghép thêm một chữ:
| Từ | Chỉ sắc nào | Dùng khi nào |
|---|---|---|
| xanh lá cây, xanh lục | màu lá | gọi tên màu sơn, màu vải; lục hay gặp trong thuật ngữ như diệp lục |
| xanh lam, lam | màu trời, màu biển đậm | áo lam, khói lam chiều; lam nghe văn hơn |
| xanh dương, xanh da trời | màu biển, màu trời quang | gọi tên màu đồ dùng, quần áo |
| biếc | lam pha lục, nhìn thích mắt | văn thơ: non xanh nước biếc |
Xanh ngắt, xanh thẳm, xanh rì là xanh ở một mức cụ thể, không phải từ đồng nghĩa; nhóm tả cỏ cây có ở bài những sắc xanh đứng gần xanh mướt. Xanh trong “sống xanh” là nghĩa mới, chỉ sự thân thiện với môi trường, xem chữ xanh trong lối sống xanh.
Riêng sắc biếc, thứ xanh ánh lên của mặt hồ hay cánh chim, được so với xanh ngọc, xanh thẳm ở đồng nghĩa, trái nghĩa với xanh biếc.
Để tả cây cỏ rậm rạp, sắc xanh rì đổi được sang xanh rờn, xanh um, xanh ngắt; độ đậm từng chữ có ở đồng nghĩa, trái nghĩa với xanh rì.
Xanh trái nghĩa với gì: chỉ rõ ở quả xanh, tuổi xanh
- Quả xanh ↔ chín: cặp duy nhất từ điển ghi thẳng. Các nghĩa khác của chín và từ đối lập của từng nghĩa có ở bài chín đối với xanh, sống, nông nổi.
- Tuổi xanh, đầu xanh ↔ tuổi già, đầu bạc: đối lập theo ngữ cảnh, hay gặp trong văn chương.
- Da xanh ↔ hồng hào: xanh ở đây là nhợt nhạt vì ốm hay vì sợ.
Đèn xanh, đèn đỏ là hai tín hiệu đi đôi, không phải cặp trái nghĩa; ghi “xanh ↔ đỏ” trong bài tập là chưa đúng. Điều kiện để hai từ thành cặp có ở bài khi nào hai từ trái nghĩa nhau.
Đổi xanh sang xanh lam, xanh lục, non: câu nào ổn?
- “Áo đồng phục màu xanh” → “xanh dương” hoặc “xanh lá cây”: phải đổi theo màu thật, vì hai từ chỉ hai màu khác nhau.
- “Quả ổi còn xanh” → “quả ổi còn non”: được khi quả mới đậu; ổi to mà chưa chín thì giữ xanh.
- “Những năm tuổi xanh” → “những năm tuổi trẻ”: được, giọng thường hơn.
- “Mặt cậu ấy xanh như tàu lá” → “mặt xanh lục”: không nói được; ở câu này xanh là nhợt nhạt, không phải tên màu.
Sáu câu ứng với từng nghĩa của chữ xanh
- Bố sơn lại cánh cổng màu xanh lá cây.
- Chiều nay biển xanh lam, sóng vỗ rất êm.
- Chùm khế trên cành còn xanh, ăn chua lắm.
- Sang tháng sau, khế chín vàng cả cây.
- Ông hay kể chuyện thời tuổi xanh đi bộ đội.
- Ốm ba hôm, mặt bé xanh hẳn đi; uống thuốc xong, má đã hồng hào trở lại.
Hỏi gọn về từ cùng nghĩa, khác nghĩa với xanh
Từ đồng nghĩa với từ xanh là những từ nào?
Màu lá: xanh lục, xanh lá cây. Màu trời, biển: xanh lam, xanh dương, biếc. Quả: non. Tuổi: trẻ.
Trái nghĩa với từ xanh là gì?
Chín, khi nói quả cây. Xanh chỉ màu sắc thì không có từ trái nghĩa.
Tuổi xanh có phải là tuổi trẻ?
Đúng, đây là cách nói văn chương. Chữ thanh trong thanh xuân cũng là màu xanh, xem bài thanh xuân và mùa xuân mang màu xanh.