Tự đánh giá trang 141 Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều là phần cuối của Bài 17 (Chị ngã em nâng) trong sách tập 1, giúp em xem lại những gì đã học ở Bài 16 (Anh em thuận hoà) và Bài 17. Dưới đây là bảng tự đánh giá đúng như sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều, kèm bài tự kiểm tra ngắn có đáp án cho từng mục.

Bảng tự đánh giá (trang 141)
Câu 1 (trang 141): Sau Bài 16 và Bài 17, em đã biết thêm những gì, đã làm thêm được những gì? Hãy tự đánh giá theo bảng dưới đây:
| Đã biết những gì? | Đã làm được những gì |
| a) Các chữ hoa O, Ô, Ơ | a) Viết các chữ hoa O, Ô, Ơ |
| b) Động viên, an ủi | b) Nói và đáp lại lời động viên, an ủi |
| c) Tin nhắn | c) Viết tin nhắn |
| d) Truyện, thơ, tranh ảnh về anh chị em | d) Quan sát, nhận xét về tranh ảnh; tả ngắn về anh chị em |
Trả lời: Bảng có 4 dòng, mỗi dòng ghép một điều em đã biết với một việc em làm được. Em tự đánh giá từng dòng theo ba mức: làm tốt (tự làm được, không cần ai nhắc), làm được nhưng chưa chắc (đôi khi còn sai), chưa làm được. Dòng nào chưa chắc, em làm bài tự kiểm tra tương ứng ở phần dưới rồi xem lại bài học có liên quan.
Tự kiểm tra từng mục (có đáp án)
Các bài thử dưới đây do Văn VN biên soạn để em tự kiểm tra, không có trong sách. Em làm ra giấy trước, sau đó mới xem đáp án.
a) Các chữ hoa O, Ô, Ơ
Bài 16 tập chữ hoa O với câu “Ong chăm tìm hoa lấy mật.”, Bài 17 tập chữ hoa Ô, Ơ với câu “Ở hiền thì sẽ gặp lành.”. Ba chữ có chung một nét cong kín, cuối nét lượn vào trong; Ô thêm dấu mũ, Ơ thêm dấu râu.
Thử ngay: Viết mỗi chữ O, Ô, Ơ một dòng; viết lại câu “Ở hiền thì sẽ gặp lành.”
Đáp án: Chữ đạt khi thân chữ tròn đều, cao 5 li; dấu mũ cân giữa đỉnh, dấu râu nhỏ ở bên phải; trong câu ứng dụng, chữ Ở có dấu hỏi đặt trên dấu râu.
b) Động viên, an ủi
Ở bài Đón em, em đã nghĩ lời Dũng an ủi bé Lan khi em rơm rớm nước mắt.
Thử ngay: Em bé nhà em ngã, khóc oà. Em nói gì để dỗ em?
Đáp án: Ví dụ: Em ngoan, để anh xem nào. Không đau lắm đâu, anh thổi cho là hết ngay! Khi được em bé hoặc bạn an ủi lại, em nhớ nói lời cảm ơn.
c) Tin nhắn
Ở Câu chuyện bó đũa, Bài viết 2 hướng dẫn em đọc và viết tin nhắn. Tin nhắn cần ghi thời gian viết, lời gọi người nhận, việc cần báo và tên người nhắn.
Thử ngay: Chiều nay em sang nhà bạn học nhóm, bố mẹ chưa đi làm về. Viết một tin nhắn để lại cho mẹ.
Đáp án: Ví dụ: 4 giờ chiều thứ Ba. Mẹ ơi, con sang nhà bạn Mai ở cuối ngõ học nhóm, 6 giờ con về ạ. Con: Bống.
d) Truyện, thơ, tranh ảnh về anh chị em
Hai Bài này có bài thơ Để lại cho em, Tiếng võng kêu, câu chuyện Đón em và Câu chuyện bó đũa; ở Góc sáng tạo, em kể một việc tốt đã làm cho anh chị em.
Thử ngay: Câu chuyện bó đũa khuyên anh em trong nhà điều gì?
Đáp án: Anh em phải thương yêu, đùm bọc, đoàn kết với nhau. Đứng riêng lẻ thì yếu như từng chiếc đũa dễ gãy, hợp sức lại thì mạnh như cả bó đũa không ai bẻ nổi.
Cách tự đánh giá cho đúng
- Đánh giá thật: dòng nào còn sai thì ghi là chưa chắc, không ngại. Tự đánh giá là để biết mình cần ôn gì, không phải để lấy điểm.
- Ba mẹ có thể hỏi con từng dòng bằng chính bài Thử ngay ở trên, con trả lời miệng hoặc viết ra giấy.
- Mỗi tối chỉ ôn một hai dòng còn yếu, khoảng 10–15 phút, rồi đánh giá lại sau vài ngày.
- Phần viết chữ hoa nên luyện ở vở ô li: viết chậm, đúng chiều nét, so với chữ mẫu trong sách.
Ôn lại các bài đọc của Bài 16 và Bài 17
Bảng tự đánh giá trang 141 tổng kết các bài: Để lại cho em, Đón em, Tiếng võng kêu, Câu chuyện bó đũa. Mỗi bài đều có gợi ý trả lời từng câu hỏi trong sách. Các Bài khác của sách xem trong mục lục Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều.