Câu chuyện bó đũa là bài đọc 2 của Bài 17 (Chị ngã em nâng) trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 1, trang 138–139. Bài giải gồm Đọc hiểu, Luyện tập (dấu phẩy) và các mục ngay sau bài đọc ở trang 139–141: Kể chuyện, Bài viết 2 (tập viết tin nhắn), Góc sáng tạo và Tự đánh giá.

Đọc: Câu chuyện bó đũa (trang 138)
Đây là truyện ngụ ngôn Việt Nam, gồm 3 đoạn. Đoạn 1: hai anh em lúc nhỏ rất hoà thuận, lớn lên mỗi người một gia đình lại hay cãi cọ. Đoạn 2: người cha buồn, bày một bó đũa và một túi tiền, ai bẻ gãy được bó đũa thì được thưởng; không ai bẻ nổi, người cha tháo bó đũa ra và bẻ từng chiếc rất dễ. Đoạn 3: người cha giảng cho các con hiểu ý nghĩa việc làm đó.
Từ ngữ SGK giải nghĩa:
- Va chạm: ở đây là cãi nhau vì những chuyện nhỏ.
- Đùm bọc: che chở, giúp đỡ nhau.
Gợi ý đọc: phân biệt giọng người kể (chậm rãi), giọng bốn người con (ngạc nhiên, cho là dễ), giọng người cha (ôn tồn, nghiêm trang, nhấn vào ý chia lẻ thì yếu, hợp lại thì mạnh).
Nội dung chính bài Câu chuyện bó đũa
Bằng việc bẻ bó đũa, người cha cho các con thấy: đứng riêng lẻ thì yếu, gắn bó với nhau thì mạnh. Câu chuyện khuyên anh chị em trong nhà phải biết thương yêu, đùm bọc, đoàn kết với nhau.
Đọc hiểu (trang 139)
Câu 1 (trang 139): Thấy các con không hoà thuận, người cha gọi họ đến, bảo họ làm gì?
Trả lời: Người cha để trên bàn một túi tiền cùng một bó đũa, gọi cả con trai, con gái, con dâu, con rể đến và bảo: nếu ai bẻ gãy được bó đũa, người đó sẽ được cha thưởng túi tiền.
Câu 2 (trang 139): Vì sao không người con nào bẻ gãy được bó đũa? Chọn ý đúng:
a) Vì họ cầm cả bó đũa mà bẻ.
b) Vì họ bẻ từng chiếc một.
c) Vì họ bẻ không đủ mạnh.
Trả lời: Chọn a) Vì họ cầm cả bó đũa mà bẻ. Nhiều chiếc đũa bó chặt vào nhau nên rất cứng, dù cố hết sức cũng không gãy.
Câu 3 (trang 139): Người cha bẻ gãy bó đũa bằng cách nào?
Trả lời: Người cha cởi dây, tách bó đũa ra rồi bẻ lần lượt từng chiếc một. Mỗi chiếc đũa riêng lẻ gãy rất dễ dàng.
Câu 4 (trang 139): Qua câu chuyện, người cha muốn khuyên các con điều gì?
Trả lời: Người cha khuyên các con: anh chị em ruột thịt phải thương yêu, che chở nhau và luôn đoàn kết. Ông nói: “chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh” và “Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.”
Luyện tập (trang 139)
Câu 1 (trang 139): Các dấu phẩy trong câu sau có tác dụng gì?
Ông cụ bèn gọi con trai, con gái, con dâu, con rể đến khuyên răn.
Trả lời: Các dấu phẩy dùng để ngăn cách các từ ngữ cùng loại đứng liền nhau trong câu. Ở đây đó là bốn từ ngữ cùng chỉ người: con trai, con gái, con dâu, con rể.
Câu 2 (trang 139): Cần thêm dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu in nghiêng?
Đoạn văn theo sách Ngụ ngôn hè phố: anh Sơn đố Linh xe nào được đi trên vỉa hè. Câu in nghiêng là câu Linh lẩm nhẩm kể tên bốn loại xe (xe máy, xe đạp, xe xích lô, xe bò) mà chưa có dấu phẩy ngăn cách, rồi lắc đầu. Cuối cùng anh Sơn cho biết xe nôi được đi trên vỉa hè.
Trả lời: Thêm 3 dấu phẩy để ngăn cách tên các loại xe:
| Câu in nghiêng sau khi thêm dấu phẩy |
| Linh lẩm nhẩm: … Xe máy, xe đạp, xe xích lô, xe bò,… rồi lắc đầu. |
Kể chuyện (trang 139–140)
Câu 1 (trang 139): Cùng bạn kể tiếp nối các đoạn của Câu chuyện bó đũa.
SGK có 4 tranh: (1) người cha ngồi bên bàn có bó đũa và túi tiền, bốn người con đứng nghe; (2) một người con dùng sức bẻ bó đũa trên đầu gối mà không gãy, những người khác đứng nhìn; (3) người cha bẻ từng chiếc đũa; (4) người cha chỉ vào những chiếc đũa gãy trên bàn, nói với các con.
Trả lời: Mỗi bạn kể một tranh, bằng lời của mình. Ví dụ:
- Tranh 1: Ngày trước có hai anh em, lớn lên lập gia đình thì hay cãi cọ. Người cha rất buồn. Một hôm, ông gọi cả bốn người con lại, chỉ vào bó đũa và túi tiền trên bàn, hứa ai bẻ gãy bó đũa sẽ được thưởng.
- Tranh 2: Từng người con lần lượt thử. Có người còn gác bó đũa lên đầu gối, gồng hết sức, mặt đỏ bừng mà bó đũa vẫn nguyên.
- Tranh 3: Người cha lặng lẽ tháo dây, rút từng chiếc đũa ra bẻ, chiếc nào cũng gãy đôi ngay.
- Tranh 4: Các con bảo bẻ từng chiếc thì ai chẳng làm được. Người cha liền giảng: đũa đứng riêng thì yếu, bó lại thì vững; anh em cũng vậy, phải thương yêu, giúp đỡ nhau thì mới mạnh. Các con hiểu ra và hứa sống hoà thuận.
Câu 2 (trang 140): Kể lại toàn bộ câu chuyện trên.
Trả lời: Em nối các đoạn đã kể ở câu 1 thành một câu chuyện liền mạch. Gợi ý cách kể hay: mở đầu bằng Ngày xưa…; đổi giọng khi kể lời các con và lời người cha; kết thúc bằng bài học về sự đoàn kết. Có thể thêm một chi tiết tưởng tượng ở cuối truyện.
Bài viết 2: Tập viết tin nhắn (trang 140–141)
Câu 1 (trang 140): Đọc tin nhắn và trả lời câu hỏi:
Tin nhắn 1: “6 giờ, thứ Bảy. Trang ơi! Anh để xôi cho em trong nồi cơm. Tối anh về sẽ có quà sinh nhật tặng em. Anh Tuấn”. Tin nhắn 2: “2 giờ chiều, Chủ nhật. Trang ơi! Mình đặt quyển truyện ở cửa sổ. Trang cất giúp mình nhé. Cảm ơn Trang! Bích”.
a) Những ai nhắn tin cho Trang? Nhắn tin bằng cách nào?
b) Vì sao anh Tuấn và bạn Bích phải nhắn tin cho Trang bằng cách ấy?
c) Anh Tuấn nhắn Trang những gì? Bạn Bích nhắn Trang những gì?
Trả lời:
- a) Anh Tuấn và bạn Bích nhắn tin cho Trang. Cả hai đều viết tin nhắn lên mẩu giấy để lại.
- b) Vì lúc đó Trang không có ở nhà (hoặc chưa dậy), anh Tuấn và Bích không gặp được Trang để nói trực tiếp, nên phải viết lại lời nhắn.
- c) Anh Tuấn dặn Trang: xôi để sẵn trong nồi cơm, tối anh về sẽ tặng quà sinh nhật. Bạn Bích báo: quyển truyện để ở cửa sổ, nhờ Trang cất hộ, và cảm ơn Trang.
Một tin nhắn thường có 4 phần: thời gian viết, lời gọi người nhận, nội dung nhắn, tên người viết.
Câu 2 (trang 141): Chọn 1 trong 2 đề:
a) Viết tin nhắn theo tình huống em tự nghĩ ra.
b) Viết tin nhắn theo tình huống sau: Chủ nhật, bố mẹ về quê. Anh đi học vẽ, trưa mới về. Ông ngoại đón em đến nhà ông bà chơi và ăn cơm ở đó. Hãy nhắn tin để anh biết.
Trả lời:
- a) Ví dụ (em sang nhà bạn học nhóm): 4 giờ chiều, thứ Năm. Mẹ ơi! Con sang nhà bạn Hà ở đầu ngõ học nhóm, 6 giờ con về ạ. Con đã cho mèo ăn rồi. Con: Minh Anh.
- b) 8 giờ sáng, Chủ nhật. Anh Nam ơi! Ông ngoại đến đón em sang nhà ông bà chơi. Trưa nay em ăn cơm ở nhà ông bà, anh không phải chờ em nhé. Chiều em về. Em: Lan.
Góc sáng tạo: Chúng tôi là anh chị em (trang 141)
Câu 1 (trang 141): Chọn 1 trong 2 đề:
a) Viết 4 – 5 câu kể một việc tốt em đã làm cho em bé (hoặc anh, chị) của em. Gợi ý: – Đó là việc gì (trông em, nhường đồ chơi cho em; giúp anh, chị; chia vui hoặc động viên, an ủi anh, chị,…)? – Việc ấy diễn ra như thế nào? – Làm được một việc tốt, em vui như thế nào?
b) Viết vài dòng thơ về em bé (hoặc anh, chị) của em. Hãy trang trí bài viết bằng ảnh, tranh em vẽ em bé (hoặc anh, chị).
Trả lời:
- a) Chủ nhật vừa rồi, mẹ đi chợ và nhờ em trông em Na. Em lấy bộ xếp hình của mình cho Na chơi, còn đọc truyện tranh cho em nghe. Khi Na đòi uống nước, em rót nước ấm và cầm cốc cho em uống. Mẹ về khen hai chị em ngoan. Em vui lắm vì đã giúp được mẹ và làm em gái vui.
- b) Vài dòng thơ tự làm:
Em Bống nhà tôi / Hai má phúng phính / Cười như hoa nở / Cả nhà vui lây. / Bống tập đi rồi / Chập chững từng bước / Tôi nắm tay em / Bống cười khanh khách.
Câu 2 (trang 141): Trưng bày, giới thiệu và bình chọn bài viết hay.
Trả lời: Cả lớp dán bài lên bảng hoặc tường lớp. Em giới thiệu bài của mình: viết về ai, vì sao chọn việc đó, tranh vẽ gì. Khi bình chọn, em xem bài nào kể rõ việc tốt hoặc có câu thơ hay, chữ đẹp, trang trí sinh động.
Tự đánh giá (trang 141)
Xem bài tự kiểm tra chi tiết kèm đáp án: Tự đánh giá trang 141 lớp 2: Em đã biết những gì, làm được những gì? – Cánh diều.
Sau Bài 16 và Bài 17, em tự đánh giá theo bảng trong SGK:
| Đã biết những gì? | Đã làm được những gì? |
| a) Các chữ hoa O, Ô, Ơ | a) Viết các chữ hoa O, Ô, Ơ |
| b) Động viên, an ủi | b) Nói và đáp lại lời động viên, an ủi |
| c) Tin nhắn | c) Viết tin nhắn |
| d) Truyện, thơ, tranh ảnh về anh chị em | d) Quan sát, nhận xét về tranh ảnh; tả ngắn về anh chị em |
Việc nào chưa chắc (ví dụ viết tin nhắn đủ 4 phần) thì luyện thêm.
Bài đọc 1 của Bài 17 là bài thơ Tiếng võng kêu (trang 135–137). Các bài khác của chủ điểm Em ở nhà nằm trong mục lục Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều.