Tứ đại kì thư là cách gọi bốn bộ tiểu thuyết chương hồi lớn của Trung Quốc thời nhà Minh: Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký và Kim Bình Mai. Tên gọi này, cũng hay viết là Tứ đại kỳ thư (四大奇書), nghĩa là “bốn bộ sách lạ lùng, phi thường”. Nhiều người nhầm nó với Tứ đại danh tác, danh sách về sau thay Kim Bình Mai bằng Hồng lâu mộng.
| Nghĩa của tên gọi | Tứ: bốn; đại: lớn; kì: lạ, phi thường; thư: sách |
| Gồm | Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Kim Bình Mai |
| Thuộc | Tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, viết bằng văn bạch thoại pha văn ngôn, thời Minh |
| Dấu hiệu nhận biết | Truyện dài trên trăm hồi, mỗi hồi có tiêu đề đối nhau, kết hồi bằng lời hẹn “hồi sau sẽ rõ” |
| Dễ nhầm với | Tứ đại danh tác (có Hồng lâu mộng, không có Kim Bình Mai) |

Tứ đại kì thư: vì sao gọi là “kì”?
Ở thời Minh, tiểu thuyết bị giới nho sĩ coi là thứ văn chương thấp, kém xa thơ và văn chính thống. Phần lớn tác giả không ghi tên thật, sách được in và bán như hàng hóa ở chợ sách. Vậy mà bốn bộ truyện này lan khắp nơi, được người ta đọc, kể, diễn đi diễn lại. Chữ kì 奇 trong “kì thư” ghi lại đúng cảm giác ấy: lạ lùng, khác thường, hay đến mức phải đặt tên riêng cho chúng.
Ai đặt ra tên gọi đầu tiên thì các nguồn kể không giống nhau. Điều chắc chắn hơn là giới in sách, bình sách cuối Minh đầu Thanh đã gom bốn bộ này thành một nhóm để quảng bá, kèm những bản có lời bình nổi tiếng. Học giả Mỹ Andrew Plaks còn dành cả một cuốn sách để chứng minh rằng bốn bộ cùng đánh dấu một bước tiến lớn trong nghệ thuật tiểu thuyết.
Về chính tả, “kì thư” và “kỳ thư” đều được dùng; sách giáo khoa mới thường viết i ngắn, nhiều sách dịch cũ và báo chí quen viết y.
Bốn bộ sách trong Tứ đại kì thư
| Tác phẩm | Tác giả (theo truyền thống) | Độ dài | Nội dung chính | Loại truyện |
|---|---|---|---|---|
| Tam quốc diễn nghĩa | La Quán Trung | 120 hồi (bản thông dụng) | Ngụy, Thục, Ngô tranh hùng cuối đời Hán | Lịch sử diễn nghĩa |
| Thủy hử | Thi Nại Am (có thuyết cho là La Quán Trung) | Nhiều bản: 70, 100, 120 hồi… | Các hảo hán tụ nghĩa ở Lương Sơn Bạc thời Bắc Tống | Anh hùng nghĩa hiệp |
| Tây du ký | Ngô Thừa Ân | 100 hồi | Thầy trò Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh | Thần ma |
| Kim Bình Mai | Bút danh Lan Lăng Tiếu Tiếu Sinh | 100 hồi | Gia đình Tây Môn Khánh và đời sống thị dân | Thế tình (tình đời) |
Chuyện tác giả của cả bốn bộ đều có dấu hỏi. Tam quốc và Thủy hử lưu truyền qua nhiều đời người kể chuyện trước khi được biên định thành sách, nên cái tên La Quán Trung hay Thi Nại Am là theo truyền thống. Tây du ký mang dấu ấn một người viết rõ hơn cả, còn tác giả Kim Bình Mai đến giờ vẫn chỉ là một bút danh; bài Kim Bình Mai và nhan đề ghép ba cái tên kể riêng chuyện này.
Đọc một hồi truyện, nhận ra lối chương hồi
Bốn bộ kì thư cùng mang những dấu hiệu của tiểu thuyết chương hồi, thể loại lớn lên từ nghề kể chuyện ngoài chợ:
- Chia hồi, mỗi hồi có tiêu đề đối nhau. Hai vế tiêu đề tóm trước nội dung, như một cặp câu đối treo đầu chương.
- Kết hồi bằng lời hẹn. Đang tới chỗ gay cấn thì dừng, kèm câu quen thuộc “muốn biết sự thể ra sao, xem hồi sau sẽ rõ”, dấu vết của người kể chuyện giữ khách cho buổi sau.
- Xen thơ, từ vào lời kể. Tới cảnh đẹp, trận đánh hay cái chết của một nhân vật, người kể dừng lại “có thơ rằng” để bình.
- Nhân vật bộc lộ qua hành động và lời nói. Ít đoạn tả nội tâm dài; tính cách hiện lên qua việc làm, như Trương Phi nóng nảy hay Tôn Ngộ Không nghịch ngợm.
- Bố cục lớn, nhiều tuyến. Các bộ đều dài trên trăm hồi, nhiều nhân vật, chia thành từng chùm hồi kể trọn một sự việc.
Ngôn ngữ cũng là một điểm đáng nói. Các bộ này viết chủ yếu bằng bạch thoại, tức lối văn gần lời nói, pha văn ngôn ở những chỗ trang trọng. Việc chúng được giới văn nhân đọc và bình đã giúp văn bạch thoại có chỗ đứng trong văn chương.
Kì thư hay danh tác: hai danh sách khác nhau thế nào?
Ba bộ Tam quốc, Thủy hử, Tây du ký có mặt trong cả hai danh sách. Chỗ khác nằm ở bộ thứ tư.
| Tiêu chí | Tứ đại kì thư | Tứ đại danh tác |
|---|---|---|
| Bộ thứ tư | Kim Bình Mai (đời Minh) | Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần (đời Thanh) |
| Thời kì xuất hiện của cách gọi | Lưu hành từ khoảng cuối Minh, đầu Thanh | Phổ biến ở Trung Quốc đại lục từ khoảng những năm 1980 |
| Phạm vi | Bốn đỉnh cao tiểu thuyết đời Minh | Bốn tiểu thuyết cổ điển được phổ cập rộng nhất |
Kim Bình Mai rời danh sách phần lớn vì nhiều đoạn miêu tả quá trực diện, từng bị cấm in qua nhiều triều đại. Giới nghiên cứu vẫn đánh giá cao nó về nghệ thuật, nên trong văn học sử, cụm Tứ đại kì thư vẫn được dùng song song.
Bốn bộ kì thư đi vào sách vở và lời nói Việt
Người Việt quen bốn bộ truyện này qua sách dịch, tuồng, phim truyền hình, và quen tới mức nhiều nhân vật thành thành ngữ. Ba ví dụ cho thấy rõ:
Tam quốc: từ trang sách lớp 10 đến câu nói cửa miệng
Học sinh lớp 10 bộ Cánh diều đọc đoạn trích Hồi trống Cổ Thành, cảnh Trương Phi nghi Quan Công phản bội rồi được giải oan bằng ba hồi trống (xem soạn bài Hồi trống Cổ Thành). Ngoài lớp học, ta nói “đa nghi như Tào Tháo” (bài tích đa nghi như Tào Tháo) hay than “thân bất do kỷ”, cụm từ mà bài thân bất do kỷ và gốc Tam quốc lần lại tới tận nguồn.
Tây du ký: những cái tên thành nghĩa bóng
Ngưu Ma Vương, Trư Bát Giới, Động Bàn Tơ đều đã thoát khỏi trang truyện. Gọi ai đó là “Trư Bát Giới” là chê ham ăn, ham sắc; nói một nơi là “Động Bàn Tơ” là ám chỉ chốn nhiều cạm bẫy. Đọc thêm nhân vật Ngưu Ma Vương trong Tây du ký và tích bảy nhện tinh Động Bàn Tơ.
Thủy hử: Lương Sơn Bạc
“Lương Sơn Bạc” trong lời nói hằng ngày chỉ một nhóm người ngang tàng tụ lại một chỗ, có khi là lời đùa về hội bạn quậy phá. Nghĩa gốc thì nghiêm trang hơn: đó là nơi những người bị dồn vào đường cùng nổi dậy chống quan lại.
Luyện tập về Tứ đại kì thư
Câu 1: Kể tên bốn bộ tiểu thuyết thuộc Tứ đại kì thư.
Đáp án: Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Kim Bình Mai.
Câu 2: Chữ “kì” trong “kì thư” nghĩa là gì?
Đáp án: Là lạ lùng, khác thường, phi thường (chữ 奇). “Kì thư” là sách hay lạ, vượt lên những sách thông thường.
Câu 3: Nêu ba dấu hiệu của tiểu thuyết chương hồi thể hiện trong các bộ kì thư.
Đáp án: Chia thành nhiều hồi, mỗi hồi có tiêu đề hai vế đối nhau; cuối hồi có lời hẹn “xem hồi sau sẽ rõ”; xen thơ vào lời kể. Có thể nêu thêm: nhân vật bộc lộ chủ yếu qua hành động, lời nói.
Câu 4: Một bạn viết “Hồng lâu mộng là một trong Tứ đại kì thư”. Câu này đúng hay sai?
Đáp án: Sai nếu hiểu theo danh sách kì thư đời Minh, vì Hồng lâu mộng ra đời ở đời Thanh và thuộc Tứ đại danh tác. Nên sửa thành “Hồng lâu mộng là một trong Tứ đại danh tác”.
Lỗi hay gặp nhất là đếm Hồng lâu mộng vào kì thư. Nhớ mẹo: kì thư là bốn bộ cùng thời Minh, danh tác thì có một bộ thời Thanh.
Tứ đại kì thư cho người mới cầm sách
Tứ đại kỳ thư gồm những tác phẩm nào?
Gồm Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký và Kim Bình Mai, cả bốn đều là tiểu thuyết chương hồi đời Minh.
Tứ đại kỳ thư và Tứ đại danh tác có giống nhau không?
Giống ba bộ, khác một bộ. Kì thư có Kim Bình Mai, danh tác có Hồng lâu mộng. Hai danh sách ra đời ở hai thời điểm và theo hai tiêu chí chọn khác nhau.
Nên đọc bộ nào trước?
Với học sinh, Tây du ký và Tam quốc diễn nghĩa dễ vào hơn cả: một bên giàu trí tưởng tượng, một bên có sẵn đoạn trích trong sách giáo khoa. Kim Bình Mai là sách dành cho người trưởng thành.
Tứ đại kì thư tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh thường dịch là Four Masterworks hoặc Four Great Masterpieces (of the Ming novel). Còn Tứ đại danh tác thường dịch là Four Great Classical Novels.