Truyền thông đại chúng là quá trình đưa thông tin tới đông đảo công chúng cùng một lúc qua các phương tiện kỹ thuật như báo in, phát thanh, truyền hình, điện ảnh và internet. Người gửi thường là một tòa soạn, một đài, một hãng phim; người nhận là hàng nghìn, hàng triệu người không quen biết nhau. Các kênh ấy gọi là phương tiện truyền thông đại chúng, tiếng Anh là mass media.
| Nghĩa ngắn | Truyền tin từ một nguồn tới số đông công chúng qua phương tiện kỹ thuật |
| Gốc từ | Hán Việt: truyền thông (đưa tin, thông tin qua lại) + đại chúng (số đông người) |
| Loại từ | Cụm danh từ; tương ứng tiếng Anh mass communication |
| Kênh tiêu biểu | Sách, báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh, báo điện tử, podcast |

Truyền thông đại chúng: một nguồn, triệu người nhận
Từ điển tiếng Việt giảng truyền thông là thông tin, tuyên truyền nói chung, và nghĩa kỹ thuật là truyền dữ liệu theo quy tắc nhất định. Thêm chữ đại chúng, cụm từ chỉ riêng loại truyền tin hướng tới số đông. Bách khoa toàn thư mở mô tả các phương tiện này là tập hợp công nghệ dùng để tiếp cận một lượng khán giả rất lớn, gồm phát sóng, in ấn, kỹ thuật số và cả quảng cáo ngoài trời.
Có hai chữ hay bị dùng lẫn. Truyền thông đại chúng là cả quá trình: soạn tin, phát đi, công chúng tiếp nhận. Phương tiện truyền thông đại chúng là các kênh làm việc đó: tờ báo, đài, kênh truyền hình. Câu “truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng” vì thế chính xác hơn “truyền hình là truyền thông đại chúng”.
Giới nghiên cứu xã hội học khi mô tả kiểu truyền tin này thường nhấn hai đặc điểm: sản phẩm được làm hàng loạt, và nó đi theo mô hình một nguồn tới nhiều người. Chữ “đại chúng” cũng không bắt buộc phải có hàng triệu người xem; nó chỉ cần sẵn có cho bất kỳ ai muốn tiếp cận.
Nhận ra truyền thông đại chúng qua dấu hiệu nào?
Một cuộc gọi điện cho mẹ không phải truyền thông đại chúng, một bản tin thời sự lúc bảy giờ tối thì phải. Ranh giới nằm ở mấy dấu hiệu sau.
- Người nhận là số đông không xác định. Bản tin không viết cho riêng ai; ai bật đài, mở báo đều nhận được như nhau.
- Đi qua một phương tiện kỹ thuật. Máy in, sóng phát thanh, cáp truyền hình, đường truyền internet.
- Có khâu sản xuất chuyên nghiệp. Phóng viên, biên tập viên, đạo diễn, người dựng hình đứng sau sản phẩm; nội dung được chọn lọc trước khi phát.
- Phản hồi chậm và ít. Khán giả truyền hình không trả lời được người dẫn chương trình ngay lập tức; xưa thì gửi thư về tòa soạn, nay thì bình luận dưới bài báo điện tử.
Các loại hình nối tiếp nhau theo thời gian. Sách và báo in có trước, nhờ kỹ thuật in chữ rời lan rộng ở châu Âu từ thế kỷ 15. Điện ảnh và phát thanh xuất hiện quanh đầu thế kỷ 20, truyền hình phổ biến vào giữa thế kỷ ấy, internet thành phương tiện đại chúng vào cuối thế kỷ 20, rồi đến điện thoại di động. Mỗi loại mới không xóa loại cũ, chỉ chia lại thời gian của công chúng.
Vì sao truyền thông đại chúng ra đời và tác động ra sao?
Nguyên nhân trước hết là kỹ thuật: có máy in, có sóng điện từ, có mạng máy tính thì mới truyền được một thông điệp tới số đông. Kế đến là nhu cầu của một xã hội đông người, sống ở đô thị, cần biết giá cả, thời tiết, luật lệ, sự kiện, và nhu cầu của các nhà sản xuất cần một chỗ để quảng cáo hàng hóa tới khách hàng.
Tác động của nó rộng đến mức khó kể hết. Mặt có lợi dễ thấy:
- Đưa tin nhanh, nhất là tin khẩn cấp như bão lũ, dịch bệnh, tai nạn giao thông.
- Phổ biến kiến thức: chương trình dạy học trên truyền hình, phim tài liệu, chuyên mục khoa học.
- Giải trí và nối người xa với nhau quanh cùng một trận bóng, một bộ phim.
Mặt cần tỉnh táo thì kín đáo hơn. Các nhà nghiên cứu truyền thông nói tới chức năng thiết lập chương trình nghị sự: báo đài chưa chắc quyết định được công chúng nghĩ gì, nhưng rất có sức quyết định công chúng nghĩ về chuyện gì, vì chuyện nào được đưa lên trang nhất thì chuyện đó thành quan trọng. Một tin sai được phát trên kênh lớn cũng lan đi nhanh hơn bất kỳ lời đính chính nào. Muốn đọc tin có phê phán, học sinh nên biết cách phân biệt một bản tin với một bài quảng cáo hay một ý kiến cá nhân; phần này có trong bài thông tin và các yếu tố của một văn bản thông tin.
Truyền thông đại chúng khác mạng xã hội ở đâu?
| Kiểu truyền tin | Ai gửi, ai nhận | Phản hồi | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Giao tiếp liên cá nhân | Một người với một hoặc vài người quen | Tức thì, hai chiều | Nói chuyện, gọi điện, nhắn tin |
| Truyền thông đại chúng | Tổ chức chuyên nghiệp tới số đông | Chậm, chủ yếu một chiều | Báo in, đài, truyền hình, báo điện tử |
| Mạng xã hội | Bất kỳ ai tới bất kỳ ai; thuật toán chọn người xem | Nhanh, nhiều chiều | Facebook, TikTok, YouTube |
Ranh giới giữa hai nhóm dưới đang mờ dần. Một clip của người bình thường có thể đến tay hàng triệu người trong một đêm, đúng kiểu nội dung lan nhanh như virus trên mạng; còn các tòa soạn lớn đều có trang mạng xã hội riêng. Điểm khác vẫn còn: báo chí có khâu biên tập và chịu trách nhiệm về tin đã đăng, còn trên mạng xã hội người đăng có khi chẳng ai kiểm.
Cũng đừng lẫn với một từ chỉ khác một dấu: truyền thống là nếp sống, giá trị được giữ qua nhiều thế hệ. Hai từ này hay bị gõ nhầm, bài chữ truyền thống và nếp xưa được giữ gìn có so sánh kĩ.
Ba ý cho đề nghị luận về truyền thông
Đề kiểu “Suy nghĩ về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng tới giới trẻ” có thể triển khai theo ba ý:
- Giải thích: truyền thông đại chúng là gì, gồm những kênh nào, khác giao tiếp cá nhân ra sao.
- Bàn luận hai mặt: mở rộng hiểu biết, nuôi đam mê học hỏi; nhưng cũng có thể dắt người đọc theo những tin giật gân, những hình mẫu sống ảo.
- Bài học: chọn nguồn tin có tòa soạn rõ ràng, đọc hết bài chứ không chỉ đọc tít, đối chiếu ít nhất hai nguồn trước khi chia sẻ.
Một dẫn chứng gần gũi cho phần bàn luận: cùng một trận lũ, bản tin truyền hình đưa số liệu đã kiểm chứng và số điện thoại cứu hộ, còn một bài đăng vô danh có thể đưa con số gấp mười lần. Người đọc tỉnh táo là người biết hỏi tin này do ai làm ra.
Báo, đài hay TikTok: xếp vào đâu cho đúng
Phương tiện truyền thông đại chúng gồm những gì?
Gồm sách, báo in, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh, đĩa nhạc, báo điện tử và các nền tảng internet phát nội dung cho số đông. Quảng cáo ngoài trời như biển, pano cũng thường được xếp vào nhóm này.
Truyền thông đại chúng tiếng Anh là gì?
Quá trình truyền tin là mass communication; các kênh truyền tin là mass media. Trong tiếng Việt hằng ngày, nhiều người dùng luôn chữ “media” để chỉ chung giới báo chí, truyền hình.
Mạng xã hội có phải là truyền thông đại chúng không?
Theo nghĩa rộng thì có, vì nội dung trên đó tới được số đông. Theo nghĩa chặt, nhiều giáo trình tách mạng xã hội thành một nhóm riêng, vì ai cũng có thể vừa là người gửi vừa là người nhận, và tin đăng lên không qua khâu biên tập.
Chức năng của truyền thông đại chúng là gì?
Thường được kể gồm: cung cấp thông tin, giáo dục và phổ biến kiến thức, giải trí, quảng cáo, cảnh báo khẩn cấp, và tạo diễn đàn để công chúng bày tỏ ý kiến về các vấn đề chung.