Truyện cười là loại truyện kể ngắn, dùng tiếng cười để mua vui hoặc để chê bai, phê phán những thói hư tật xấu, những điều trái tự nhiên trong đời sống. Trong văn học dân gian Việt Nam, truyện cười còn được gọi là truyện tiếu lâm. Theo mục đích, truyện cười thường được chia thành truyện khôi hài (chủ yếu để giải trí) và truyện trào phúng (chủ yếu để phê phán).
| Khái niệm | Truyện kể ngắn, tạo tiếng cười để giải trí và phê phán cái xấu |
| Thuộc | Văn học dân gian (truyện kể); ngày nay có cả truyện cười hiện đại |
| Dấu hiệu nhận biết | Rất ngắn, ít nhân vật, một tình huống trớ trêu, kết bằng một câu nói hoặc chi tiết bất ngờ |
| Phân loại | Truyện khôi hài và truyện trào phúng; truyện cười dân gian và truyện cười hiện đại |
| Học ở | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức (Bài 5), Ngữ văn 10 chương trình cũ |

Truyện cười: cười để làm gì?
Người ta hay nói “một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Truyện cười dân gian đúng là có phần làm việc ấy: sau buổi cày, bên nồi cơm, chuyện anh chàng hay khoe hay ông thầy dốt được kể đi kể lại cho cả nhà cùng cười. Nhưng không phải tiếng cười nào cũng vô hại. Phần lớn truyện cười Việt Nam nhắm vào một cái gì đó đáng chê: thói khoe khoang, sự ba phải, cái dốt nát mà lại sĩ diện, thói ăn của đút của quan lại.
Vì vậy, có thể tóm mục đích của truyện cười thành ba mức. Mức nhẹ nhất là mua vui, giải trí. Mức thứ hai là phê phán những thói xấu có trong mỗi người, để người nghe tự soi mình. Mức thứ ba là đả kích, vạch trần cái xấu của tầng lớp có quyền thế thời xưa. Các nhà nghiên cứu coi truyện cười là một dạng của văn học trào phúng, gắn với phạm trù thẩm mĩ “cái hài”.
Sách Ngữ văn 8 bộ Kết nối tri thức đưa ba truyện Lợn cưới, áo mới, Treo biển và Nói dóc gặp nhau vào bài học “Những câu chuyện hài”. Ở Ngữ văn 10 chương trình cũ, học sinh đã quen với Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày.
Khác với thế giới truyện cổ tích, nơi cái thiện thắng nhờ phép màu, truyện cười để cái xấu tự lộ ra rồi bị cười cho.
Hai truyện cười dân gian đọc kĩ từng chi tiết
Treo biển: chiều theo mọi người đến mất cả biển
Nhà hàng bán cá treo tấm biển “Ở đây có bán cá tươi”. Người qua đường thứ nhất chê chữ “tươi” là thừa, nhà hàng bỏ chữ “tươi”. Người thứ hai chê chữ “ở đây”, người thứ ba chê chữ “có bán”; nhà hàng bỏ hết. Đến khi chỉ còn chữ “cá”, lại có người bảo chưa đến đầu phố đã thấy cá, treo biển làm gì, thế là nhà hàng cất nốt. Tiếng cười bật ra từ chỗ ai góp ý cũng có lí một chút, nhưng nhà hàng nghe theo tất cả mà không tự suy nghĩ. Truyện chê thói không có chính kiến. Bản kể đầy đủ có ở trang truyện cười Treo biển.
Tam đại con gà: cái dốt cứ muốn tỏ ra hay chữ
Anh học trò dốt được mời làm thầy đồ. Gặp chữ “kê” (gà) không biết đọc, anh ta bịa ra một câu đọc nghe như thật, rồi khấn thổ công xin keo để “xác nhận”, bắt học trò đọc to. Đến khi bị bố học trò hỏi, anh ta còn nghĩ ra cách giải thích vòng vèo, “dạy” cả ba đời nhà con gà. Cái dốt bị đẩy lên từng nấc, càng che càng lộ. Xem bài soạn Tam đại con gà để nắm các tình huống gây cười.
Bốn dấu hiệu của một truyện cười
- Ngắn và gọn. Truyện cười dân gian thường chỉ vài chục đến vài trăm chữ, một hoặc hai cảnh. Không có đoạn tả cảnh, tả tâm trạng dài.
- Nhân vật ít và mang tính “loại”. Thường là “anh nọ”, “một ông quan”, “thầy đồ”, đại diện cho một thói xấu chứ không phải một con người cụ thể có tiểu sử.
- Có mâu thuẫn trái tự nhiên. Bên trong và bên ngoài vênh nhau: dốt mà làm thầy, keo kiệt mà muốn khoe, quan “xử kiện” nhưng ăn tiền cả hai bên. Chỗ vênh ấy là gốc của tiếng cười.
- Kết bằng một chi tiết bất ngờ. Câu chốt ở cuối truyện làm lộ ra bản chất nhân vật, giống câu punchline trong truyện cười. Ở Lợn cưới, áo mới, đó là câu trả lời vừa khoe áo vừa chối không thấy con lợn.
Thêm một dấu hiệu nữa: truyện cười hay dùng lối nói phóng đại và chơi chữ. Bỏ đi câu chốt, truyện gần như mất hết sức cười; đó cũng là lí do khi kể lại truyện cười phải giữ đúng câu ấy.
Khôi hài và trào phúng: hai loại truyện cười
| Tiêu chí | Truyện khôi hài | Truyện trào phúng |
|---|---|---|
| Mục đích chính | Mua vui, giải trí | Phê phán, đả kích |
| Đối tượng | Những thói xấu nhỏ, cái ngớ ngẩn thường gặp | Thói xấu đáng lên án, tầng lớp có quyền thế |
| Sắc thái tiếng cười | Nhẹ nhàng, vui vẻ | Sâu cay, mỉa mai |
| Ví dụ | Lợn cưới, áo mới; Nói dóc gặp nhau | Nhưng nó phải bằng hai mày (quan ăn đút lót) |
Ranh giới hai loại không cứng. Treo biển vui là chính nhưng vẫn có ý chê; Tam đại con gà vừa khôi hài vừa phê phán lối học hình thức. Ngoài cách chia theo mục đích, nhiều tài liệu còn chia truyện cười dân gian và truyện cười hiện đại: hai loại khác nhau về bối cảnh, ngôn ngữ, nhưng chung một hướng là dùng tiếng cười để chế giễu cái xấu, cái lỗi thời. Một số truyện cười lại kết thành chuỗi quanh một nhân vật như Trạng Quỳnh, Ba Giai Tú Xuất. Hiểu thêm về giọng cười phê phán qua bài trào phúng và châm biếm khác nhau thế nào.
Gần với truyện cười còn có giai thoại văn học, những mẩu chuyện ngắn, nhiều khi dí dỏm, kể về người có thật như các nhà thơ, ông nghè.
Luyện tập: năm câu về truyện cười
Câu 1: Chỉ ra mâu thuẫn gây cười trong truyện Lợn cưới, áo mới.
Đáp án: Hai nhân vật đều có thói khoe của, nhưng lại khoe ở một hoàn cảnh không hợp lẽ thường: một anh đang mất lợn vẫn cố nói “lợn cưới”, một anh được hỏi về con lợn lại giơ áo ra khoe. Mâu thuẫn giữa việc cần làm (tìm lợn, chỉ đường) và việc họ làm (khoe) là gốc của tiếng cười.
Câu 2: Truyện Treo biển phê phán điều gì? Bài học rút ra là gì?
Đáp án: Truyện chê người làm việc không có chính kiến, ai nói gì cũng nghe theo. Bài học: cần tiếp thu ý kiến người khác có chọn lọc, suy nghĩ xem góp ý ấy có đúng với mục đích của mình hay không.
Câu 3: Vì sao truyện cười thường kết thúc bằng một câu nói hoặc hành động bất ngờ?
Đáp án: Vì đó là lúc bản chất của nhân vật bị lộ ra trọn vẹn. Người nghe đã được dẫn dắt theo một hướng, đến câu cuối thì bị “đánh úp”, tiếng cười bật ra. Chi tiết ấy vừa gây cười vừa làm rõ thói xấu bị phê phán.
Câu 4: Xếp các truyện sau vào truyện khôi hài hoặc truyện trào phúng: Nói dóc gặp nhau, Nhưng nó phải bằng hai mày, Lợn cưới áo mới.
Đáp án: Khôi hài: Nói dóc gặp nhau, Lợn cưới, áo mới (chế giễu thói nói khoác, khoe của, mua vui là chính). Trào phúng: Nhưng nó phải bằng hai mày (vạch trần thói ăn hối lộ của quan lại).
Câu 5: Truyện cười khác hài kịch ở điểm nào?
Đáp án: Cả hai đều tạo tiếng cười, nhưng truyện cười thuộc loại truyện, được kể bằng lời, có người kể chuyện. Hài kịch thuộc loại kịch, được viết để diễn trên sân khấu, câu chuyện hiện ra qua lời thoại và hành động nhân vật.
Kể và phân tích truyện cười cho đúng
Đặc điểm của truyện cười dân gian là gì?
Truyện rất ngắn, nhân vật ít và mang tính đại diện, có một mâu thuẫn trái tự nhiên, kết bằng chi tiết bất ngờ làm bật ra tiếng cười. Tiếng cười ấy vừa để mua vui vừa để phê phán thói xấu.
Truyện cười có mấy loại?
Theo mục đích, có hai loại chính: truyện khôi hài và truyện trào phúng. Theo thời gian ra đời, có truyện cười dân gian và truyện cười hiện đại.
Truyện tiếu lâm có phải truyện cười không?
Có. “Tiếu lâm” vốn có nghĩa là rừng cười, tên gọi dân gian của kho truyện cười. Khi học trên lớp, nên dùng chữ “truyện cười” cho thống nhất với SGK.
Truyện cười dân gian dạy được gì cho học sinh?
Ngoài phần vui, mỗi truyện là một tấm gương nhỏ: đừng khoe khoang như anh có áo mới, đừng giấu dốt như thầy đồ trong Tam đại con gà. Khi viết bài, nên chỉ rõ tiếng cười nhắm vào ai, vào thói xấu nào. Bài soạn chùm truyện cười dân gian lớp 8 có gợi ý trả lời từng câu hỏi SGK.