Truyện cổ tích là truyện kể dân gian hư cấu, giàu yếu tố hoang đường, kì ảo, xoay quanh số phận những kiểu nhân vật quen thuộc như người mồ côi, người em hiền lành, chàng dũng sĩ, cô gái bất hạnh, người mang lốt vật. Truyện gửi gắm ước mơ công bằng và niềm tin rằng người tốt sẽ được đền đáp. Theo đề tài, cổ tích thường chia thành ba nhóm: cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt và cổ tích loài vật.
| Khái niệm | Truyện dân gian hư cấu, có yếu tố kì ảo, kể về các kiểu nhân vật quen thuộc, thể hiện ước mơ cái thiện thắng |
| Gốc chữ | Hán Việt 古跡: cổ là xưa, tích là dấu vết; nghĩa rộng là chuyện xưa |
| Thuộc | Văn học dân gian, nhóm truyện kể (cùng truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười) |
| Dấu hiệu nhận biết | Mở đầu “ngày xửa ngày xưa”, nhân vật thiện – ác rạch ròi, có phép lạ, kết thúc có hậu |
| Phân loại | Cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt (thế sự), cổ tích loài vật |

Truyện cổ tích: “chuyện xưa” của ai?
Chữ cổ tích vốn là 古跡, nghĩa là dấu vết thời xưa; đến giờ tiếng Việt vẫn còn dùng nghĩa ấy trong cụm “danh lam cổ tích”. Từ “dấu xưa” chuyển sang “chuyện xưa” là một bước rất tự nhiên, và truyện cổ tích là thứ chuyện xưa mà người kể lẫn người nghe đều biết là bịa: không ai hỏi Thạch Sanh sống năm nào, ở làng nào.
Đó là chỗ cổ tích khác truyền thuyết. Truyền thuyết còn bám vào một nhân vật, một sự kiện, một địa danh mà người xưa tin là có thật. Cổ tích thì được tiếp nhận như một cuộc chơi của trí tưởng tượng; cái thật của nó nằm ở chỗ khác: nỗi khổ của người nghèo, chuyện dì ghẻ con chồng, chuyện anh em tranh gia tài, tức những mối quan hệ có thật trong làng xóm.
Sách Ngữ văn 6 khi dạy thể loại này nhấn vào hai ý. Một là các kiểu nhân vật: nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch, người mang lốt vật. Hai là cái đích của câu chuyện: niềm tin rằng cái tốt cuối cùng thắng cái xấu. Vì kể bằng miệng qua nhiều đời, mỗi truyện thường có nhiều dị bản; khi học, ta nói “tác giả dân gian” chứ không nêu tên người sáng tác.
Ba nhóm truyện cổ tích và cách xếp loại
| Nhóm | Nét chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Cổ tích thần kì | Đậm phép lạ: thần, tiên, Bụt, vật báu; nhân vật được trợ giúp để vượt thử thách; thường kết thúc có hậu | Thạch Sanh, Tấm Cám, Sọ Dừa, Cây khế |
| Cổ tích sinh hoạt (thế sự) | Ít hoặc không có yếu tố thần kì, chuyện diễn ra theo logic đời thường; đề cao trí khôn, sự chủ động của con người | Em bé thông minh, Người vợ thông minh |
| Cổ tích loài vật | Nhân vật chính là con vật được nhân hóa; nhiều truyện giải thích đặc điểm của loài vật | Trí khôn của ta đây, Sự tích con dã tràng |
Có hai điều cần lưu ý. Cổ tích sinh hoạt không bắt buộc kết thúc có hậu, vì nó đi theo lẽ thường của đời sống. Còn cổ tích loài vật càng về sau càng nghiêng về bài học đạo đức, nên dễ bị nhầm với truyện ngụ ngôn. Một số tài liệu còn tách riêng nhóm cổ tích phiêu lưu hay truyện bịa vui, nhưng trong chương trình phổ thông, ba nhóm trên là đủ.
Năm dấu hiệu nhận ra truyện cổ tích
- Thời gian, nơi chốn phiếm chỉ. “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ…” là câu mở quen thuộc nhất. Không có năm tháng, không có triều vua cụ thể.
- Nhân vật chia hai tuyến. Người tốt và kẻ xấu đối lập rõ: Thạch Sanh – Lí Thông, Tấm – mẹ con Cám, người em – người anh trong Cây khế.
- Yếu tố kì ảo làm “cán cân công lí”. Cây đàn thần, niêu cơm ăn mãi không hết, con chim thần trả vàng xuất hiện đúng lúc người hiền gặp nạn.
- Mô típ lặp lại. Ba lần thử thách, người em được chia phần thiệt, vật báu đền ơn, người mang lốt xấu xí lột xác.
- Kết thúc có hậu. Người tốt được hạnh phúc, kẻ ác bị trừng phạt. Câu nói “đẹp như cổ tích” ra đời từ chính kiểu kết này.
Đọc bốn truyện cổ tích trong sách Ngữ văn
Thạch Sanh: người dũng sĩ hiền lành
Thạch Sanh mồ côi, sống dưới gốc đa, rồi lần lượt diệt chằn tinh, giết đại bàng, cứu công chúa, đánh lui quân mười tám nước. Mỗi chiến công đều có một vật kì diệu đi kèm. Cây đàn thần giúp chàng giải oan, niêu cơm thần khiến quân giặc phải phục. Truyện thể hiện cả hai mặt của ước mơ dân gian: người nghèo có tài sẽ được trọng, và hòa bình được giữ bằng lòng nhân hậu chứ không chỉ bằng sức mạnh. Xem soạn bài Thạch Sanh lớp 6.
Tấm Cám: người con gái bất hạnh
Tấm là kiểu nhân vật bất hạnh điển hình: mồ côi, bị dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ hành hạ. Bụt hiện lên mỗi khi Tấm khóc, còn Tấm thì chết đi sống lại qua nhiều kiếp: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị. Chuỗi hóa thân ấy cho thấy cái thiện không dễ bị tiêu diệt. Muốn đọc lại cả truyện, có bản kể ở trang truyện cổ tích Tấm Cám.
Sọ Dừa: người mang lốt vật
Sọ Dừa sinh ra không chân không tay, tròn như quả dừa, nhưng chăn bò giỏi, thổi sáo hay và cuối cùng lột lốt thành chàng trai khôi ngô, đỗ trạng nguyên. Mô típ “người mang lốt vật” nói một điều rất giản dị: đừng nhìn vẻ ngoài mà đánh giá con người.
Em bé thông minh: cổ tích sinh hoạt
Ở truyện này không có Bụt hay tiên. Em bé thắng viên quan, thắng nhà vua, thắng cả sứ thần nước ngoài chỉ bằng những câu đố mẹo và lời đáp nhanh trí. Đây là ví dụ tốt cho nhóm cổ tích sinh hoạt: chuyện đi theo lẽ đời, nhân vật tự cứu mình bằng trí khôn. Có thể xem bài soạn Em bé thông minh.
Cổ tích, truyền thuyết và ngụ ngôn khác nhau thế nào?
| Tiêu chí | Truyện cổ tích | Truyền thuyết | Truyện ngụ ngôn |
|---|---|---|---|
| Người nghe tin là thật? | Không, biết là hư cấu | Có, gắn với lịch sử, địa danh | Không, biết là chuyện mượn |
| Nhân vật | Người thường, kiểu nhân vật quen thuộc | Nhân vật lịch sử được kì ảo hóa | Con vật, đồ vật hoặc người, mang ý ẩn dụ |
| Mục đích | Thể hiện ước mơ công bằng, niềm tin cái thiện | Tôn vinh, giải thích lịch sử, phong tục | Rút ra bài học về cách sống |
| Độ dài | Thường dài, nhiều tình tiết | Vừa phải | Rất ngắn |
Hai bài cùng mảng trên trang có thể đọc song song: đặc điểm của truyền thuyết và truyện ngụ ngôn có gì riêng.
Cũng là truyện kể dân gian nhưng ngắn hơn và lấy tiếng cười làm vũ khí, truyện cười và tiếng cười phê phán là thể loại học sinh gặp ở Ngữ văn 8.
Luyện tập: năm câu về truyện cổ tích
Câu 1: Xếp các truyện sau vào nhóm cổ tích phù hợp: Thạch Sanh, Em bé thông minh, Trí khôn của ta đây, Cây khế.
Đáp án: Cổ tích thần kì: Thạch Sanh, Cây khế (có vật thần, chim thần). Cổ tích sinh hoạt: Em bé thông minh (không có phép lạ, nhân vật thắng bằng trí khôn). Cổ tích loài vật: Trí khôn của ta đây (nhân vật là trâu, hổ, giải thích đặc điểm của chúng).
Câu 2: Chỉ ra nhân vật thuộc kiểu “người mang lốt vật” và nêu ý nghĩa của mô típ này.
Đáp án: Sọ Dừa là nhân vật mang lốt vật. Mô típ này đề cao vẻ đẹp bên trong, phê phán thói trọng hình thức, đồng thời thể hiện niềm cảm thông với những người kém may mắn.
Câu 3: Yếu tố kì ảo trong Thạch Sanh có tác dụng gì?
Đáp án: Cây đàn thần giúp Thạch Sanh được minh oan, niêu cơm thần khiến quân mười tám nước phải phục. Các chi tiết ấy là cách dân gian “trao công lí” cho người hiền, đồng thời làm truyện thêm hấp dẫn.
Câu 4: Vì sao không xếp Thánh Gióng vào truyện cổ tích?
Đáp án: Vì Thánh Gióng gắn với một thời đại lịch sử (đời Hùng Vương), một cuộc chống giặc và các dấu tích người xưa tin là có thật như làng Phù Đổng. Đó là đặc trưng của truyền thuyết, không phải cổ tích.
Câu 5: Kết thúc “Tấm trở về làm hoàng hậu” thể hiện ước mơ gì của nhân dân?
Đáp án: Ước mơ về công bằng: người hiền lành, chịu nhiều đau khổ cuối cùng được hạnh phúc. Kiểu kết có hậu này là dấu hiệu điển hình của truyện cổ tích thần kì.
Những điều lớp 6 cần nhớ về cổ tích
Đặc điểm truyện cổ tích gồm những gì?
Có thể gom thành bốn ý: hư cấu và giàu yếu tố kì ảo; nhân vật thuộc các kiểu quen thuộc, chia hai tuyến thiện – ác; cốt truyện có mô típ lặp lại; kết thúc có hậu, thể hiện ước mơ công bằng.
Truyện cổ tích có mấy loại?
Ba loại thường dùng trong nhà trường: cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt và cổ tích loài vật. Nhóm thần kì phổ biến nhất trong SGK.
Cổ tích là gì khi dùng như tính từ?
Trong lời nói hằng ngày, “cổ tích” còn chỉ điều đẹp đến khó tin, như “một đám cưới cổ tích”, “cứ như chuyện cổ tích”. Nghĩa này sinh ra từ kiểu kết thúc có hậu của thể loại.
Truyện cổ tích nước ngoài có giống truyện cổ tích Việt Nam không?
Có nhiều điểm giống: cô gái bị dì ghẻ hành hạ, người em được đền ơn, vật báu thần kì. Đó là vì các dân tộc có những mối quan hệ gia đình, xã hội tương tự. Khác nhau ở chi tiết văn hóa: Tấm có Bụt, Lọ Lem có bà tiên; Tấm ướm vừa chiếc hài, Lọ Lem ướm vừa chiếc giày.