Khắc kỷ là tự kiềm chế ham muốn và cảm xúc của bản thân để sống theo một khuôn phép đạo đức mình đã chọn. Từ này cũng là tên tiếng Việt của chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism), một trường phái triết học Hy Lạp cổ đại. Người khắc kỷ, hiểu đúng, không phải người vô cảm, mà là người không để cảm xúc nhất thời cầm lái.
| Nghĩa ngắn | Kiềm chế ham muốn của mình để tu dưỡng theo khuôn phép đạo đức |
| Gốc từ | Hán Việt 克己: khắc (thắng được, chế ngự) + kỷ (mình) |
| Cách viết | Khắc kỷ hoặc khắc kỉ đều được từ điển ghi nhận |
| Tiếng Anh | Stoic (người/tính từ), Stoicism (trường phái) |

Khắc kỷ: tự thắng mình và một học phái
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng khắc kỉ là kiềm chế mọi ham muốn, gò mình theo một khuôn đạo đức khổ hạnh, ví dụ một con người khắc kỉ. Wiktionary tiếng Việt diễn đạt gần như thế: kiềm chế lòng dục của mình để tu dưỡng theo một khuôn khổ đạo đức.
Gốc chữ Hán khá rõ. Khắc (克) là đánh được, thắng được, như trong khắc phục. Kỷ (己) là mình, đối lại với người, như trong ích kỷ, vị kỷ. Khắc kỷ vì thế là “thắng chính mình”. Luận ngữ (thiên Nhan Uyên) có câu Khổng Tử đáp học trò: khắc kỉ phục lễ vi nhân, nghĩa là dẹp lòng riêng của mình để trở về với lễ thì đó là điều nhân. Thiều Chửu giảng cụm này là đánh đổ lòng muốn xằng của mình để lấy lại lễ.
Lớp nghĩa thứ hai đến muộn hơn: người ta mượn chữ khắc kỷ để dịch Stoicism. Trường phái này do Zeno thành Citium lập ra ở Athens vào khoảng năm 300 trước Công nguyên. Ông giảng bài ở Stoa Poikile, một dãy hành lang có cột vẽ tranh bên khu chợ Agora, nên học trò được gọi là “người của Stoa”. Về sau trường phái có những tên tuổi lớn thời La Mã như Seneca, Epictetus và hoàng đế Marcus Aurelius.
Người sống khắc kỷ thường cư xử thế nào?
Không có bảng kiểm nào để xếp ai là khắc kỷ. Dưới đây chỉ là những nét người ta hay nhận ra ở một người theo lối sống này:
- Gặp chuyện bực mình, họ dừng lại một nhịp rồi mới phản ứng, thay vì nói ngay câu đầu tiên bật ra.
- Họ phân biệt điều mình làm được với điều nằm ngoài tầm tay. Mưa làm hỏng buổi dã ngoại thì thôi, nhưng chuẩn bị áo mưa là việc của mình.
- Họ không chạy theo thú vui chỉ vì nó có sẵn: bớt lướt điện thoại, ăn uống vừa đủ, ngủ đúng giờ.
- Khen chê của người khác ít làm họ chao đảo; họ quan tâm việc mình làm có đúng hay không hơn là được bao nhiêu lượt thích.
Ý thứ hai được Epictetus nói rất rõ ở mấy dòng mở đầu cuốn Cẩm nang (Enchiridion): có những thứ tùy thuộc vào ta, như nhận định, mong muốn, việc ta làm; và có những thứ không tùy thuộc vào ta, như thân thể, của cải, tiếng tăm. Phần lớn nỗi khổ, theo các nhà khắc kỷ, đến từ việc ta cứ đòi kiểm soát nhóm thứ hai. Lối sống này vì thế gần với tinh thần tự giác giữ nếp, nhưng thêm một lớp suy xét về điều gì đáng bận lòng. Tên Enchiridion vốn nghĩa là sách cầm tay, đúng với nghĩa thường dùng hôm nay của cẩm nang: tài liệu gom điều cốt yếu.
Vì sao triết lý hơn hai nghìn năm tuổi lại được tìm đọc nhiều?
Lý do dễ thấy nhất là nó thực dụng. Khắc kỷ không đòi người ta tin vào điều gì cao xa, chỉ đưa ra vài thói quen tự hỏi mình hằng ngày. Suy tưởng của Marcus Aurelius thật ra là những ghi chép riêng một vị hoàng đế viết cho chính ông, nhắc mình kiên nhẫn với người khó chịu và bình thản trước cái chết. Một cuốn sổ như thế đọc lên rất gần với người đang bận rộn, áp lực.
Lý do thứ hai là cảm giác mất kiểm soát. Tin tức dồn dập, mạng xã hội so sánh liên tục, kỳ thi và công việc đều nhiều biến số. Một triết lý dạy người ta tập trung vào phần mình làm được và buông phần còn lại tự nhiên có sức hút.
Tác động thì có hai mặt. Mặt tốt là bình tĩnh hơn, ít bốc đồng hơn, biết tự chịu trách nhiệm. Mặt dễ hiểu sai là biến khắc kỷ thành “cấm buồn, cấm khóc”, nuốt hết mọi cảm xúc vào trong. Cách hiểu ấy đi ngược với chính các nhà khắc kỷ, vốn coi trọng tình bạn, lòng tốt và việc sống tử tế với người khác. Ai muốn đọc kỹ hơn về gốc gác các trường phái tư tưởng có thể bắt đầu từ bài triết học nghĩa là gì.
Khắc kỷ khác vô cảm và khổ hạnh ra sao?
| Khắc kỷ | Vô cảm | Khổ hạnh | |
|---|---|---|---|
| Cảm xúc | Vẫn có, nhưng không để nó quyết định thay mình | Thờ ơ, không rung động trước người và việc | Có thể có; trọng tâm là ép xác |
| Với vật chất | Dùng vừa đủ, không lệ thuộc | Không liên quan | Cố ý từ bỏ, chịu thiếu thốn |
| Với người khác | Coi trọng bổn phận và lòng tốt | Lạnh nhạt | Thường hướng vào tu dưỡng riêng |
Từ điển Hoàng Phê có nhắc chữ “khổ hạnh” trong lời giảng, nên nghĩa tiếng Việt của khắc kỷ nghiêng về sự khắt khe với bản thân hơn so với Stoicism. Khi đọc sách triết học, nên hiểu khắc kỷ theo nghĩa trường phái; khi nói “ông ấy sống khắc kỷ”, người Việt thường muốn khen sự tự chế và giản dị. Gần với khắc kỷ trong đời thường còn có sức bền của ý chí, thứ giúp người ta giữ được kỷ luật lâu dài.
Nếu việc dồn nén cảm xúc khiến bạn mệt mỏi, mất ngủ hay buồn bã kéo dài, hãy tâm sự với người thân hoặc tìm đến chuyên gia tâm lý; khắc kỷ không có nghĩa là phải chịu một mình.
Gỡ rối vài thắc mắc về khắc kỷ
Chủ nghĩa khắc kỷ là gì?
Là trường phái triết học ra đời ở Athens khoảng năm 300 trước Công nguyên, do Zeno thành Citium khởi xướng. Trường phái này coi đức hạnh là điều tốt duy nhất và dạy người ta sống theo lý trí, bình thản trước những gì nằm ngoài tầm kiểm soát.
Người khắc kỷ là người như thế nào?
Là người tự chế được ham muốn và cảm xúc nhất thời, sống giản dị, giữ nguyên tắc. Họ vẫn biết vui buồn, chỉ là không để vui buồn đẩy mình vào quyết định vội vàng.
Khắc kỷ hay khắc kỉ mới đúng?
Cả hai đều được chấp nhận vì tiếng Việt cho phép viết i hoặc y ở những chữ này. Từ điển Hoàng Phê dùng “khắc kỉ”, nhiều sách báo dùng “khắc kỷ”.
Sống khắc kỷ có phải là kìm nén cảm xúc không?
Không hẳn. Các nhà khắc kỷ khuyên xem xét lại cách mình nhìn sự việc để cảm xúc dịu xuống, chứ không bảo giấu cảm xúc đi. Kìm nén mà không giải tỏa lâu ngày lại là điều nên tránh.