Trí tưởng tượng là khả năng của đầu óc dựng lên hình ảnh, âm thanh, câu chuyện về những thứ không có trước mắt, hoặc chưa từng có. Nhắm mắt mà vẫn “thấy” căn bếp nhà bà ngoại, hay vẽ ra một con tàu bay chưa ai chế tạo, đều là đang tưởng tượng. Người có trí tưởng tượng phong phú thì làm việc này nhanh, nhiều và lạ.
| Nghĩa ngắn | Năng lực tạo trong trí hình ảnh những cái không ở trước mắt hoặc chưa hề có |
| Gốc từ | Trí (đầu óc) + tưởng tượng (Hán Việt 想像: nghĩ ra hình) |
| Loại từ | Danh từ; động từ tương ứng là “tưởng tượng” |
| Hay đi với | phong phú, bay bổng, nghèo nàn, ngoài sức tưởng tượng |

Trí tưởng tượng làm việc ra sao?
Động từ tưởng tượng được từ điển giảng là tạo ra trong trí hình ảnh của những cái không có ở trước mắt hoặc chưa hề có, gần nghĩa với hình dung. Thêm chữ “trí” phía trước, ta có tên gọi cho cái năng lực ấy, giống như “trí nhớ” là năng lực nhớ.
Tưởng tượng không làm ra thứ gì từ hư không. Nó lấy những mảnh đã thấy, đã nghe, đã đọc rồi ghép lại theo cách mới. Con rồng là ví dụ dễ thấy: thân rắn, vảy cá, chân chim, đầu như thú, không con nào có thật mà mảnh nào cũng quen.
Có thể chia thành hai mức cho dễ hình dung:
- Tái hiện: dựng lại trong đầu điều mình chưa chứng kiến nhưng được kể. Đọc tả cảnh chợ nổi miền Tây mà thấy được ghe xuồng, cây bẹo treo trái cây.
- Sáng tạo: nghĩ ra cái hoàn toàn mới, như một nhân vật truyện, một chiếc máy, một cách bày lại góc học tập.
Mức thứ hai chính là chỗ nối sang năng lực làm ra cái mới có ích: có nghĩ ra được thì mới có cái để làm.
Chữ 想 có trái tim, chữ 像 có con người
Nhìn chữ Hán sẽ thấy hai chữ tưởng và tượng chẳng hề lặp âm cho vui. Chữ tưởng (想) có bộ tâm 心 (lòng) ở dưới. Thiều Chửu giảng: lòng muốn cái gì nghĩ vào cái ấy gọi là tưởng; việc đã qua mà nhớ lại, hay việc chưa tới mà dự tính trước cũng gọi là tưởng. Cùng họ có hồi tưởng, liên tưởng, mộng tưởng, ảo tưởng, lý tưởng, tư tưởng.
Chữ tượng (像) có bộ nhân 亻 (người), nghĩa là hình tượng, cái giống như thật. Ta gặp nó trong hình tượng, ấn tượng, thần tượng, trừu tượng. Vậy tưởng tượng là “nghĩ ra hình ảnh”.
Còn cách viết 想象 thì mang theo một câu chuyện. Chữ 象 vốn là con voi. Thiên Giải Lão trong sách Hàn Phi Tử có đoạn nói người thời ấy hiếm khi thấy voi sống, chỉ nhặt được xương voi chết, rồi dựa vào bộ xương mà hình dung con voi lúc còn sống. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc xem đoạn này là gốc ý của chữ tưởng tượng: từ mấy khúc xương, dựng lại cả một con vật.
Những chú bé giàu tưởng tượng trong sách tiếng Việt
Học sinh tiểu học gặp chữ này khá sớm. Sách Cánh diều lớp 4 có bài đọc mà nhan đề đã nói hết ý, xem lời giải bài đọc lớp 4 Cánh diều trang 44, 45. Sách Kết nối tri thức lớp 5 cũng có hẳn một bài mang tên Trí tưởng tượng phong phú.
Truyện cổ tích là kho tưởng tượng của ông cha: cây tre trăm đốt, ông Bụt hiện lên, quả thị thơm thả cô Tấm ra. Không ai tin có thật, nhưng ai cũng thấy rõ như đang xem. Văn chương gọi phần bịa có chủ đích ấy là yếu tố hư cấu của người viết truyện.
Trong lời nói thường, câu quen nhất có lẽ là “đẹp ngoài sức tưởng tượng“. Ví dụ: Lần đầu ra Côn Đảo, biển xanh trong ngoài sức tưởng tượng của tôi.
Tưởng tượng, mơ mộng và ảo tưởng không phải một
| Từ | Điểm khác | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tưởng tượng | Dựng hình trong trí, biết rõ là mình đang nghĩ ra | Tưởng tượng mình là phi hành gia |
| Hình dung | Gần nghĩa, thiên về nhìn ra cho rõ một điều cụ thể | Hình dung đường đi từ nhà tới trường |
| Mơ mộng | Thả hồn theo điều đẹp, ít gắn với việc làm | Ngồi mơ mộng bên cửa sổ |
| Ảo tưởng | Tin điều không có thật là thật | Ảo tưởng mình không cần học vẫn đỗ |
| Thực tế, khô khan | Trái nghĩa tương đối: chỉ nhìn cái đang có | Đầu óc thực tế, ít bay bổng |
Ranh giới đáng giữ nằm ở chỗ biết. Người tưởng tượng biết con tàu bay kia đang ở trong đầu mình. Người tin vào điều không có thật như thể đã có thì đã sang ảo tưởng. Tưởng tượng có dây buộc vào thực tế, mơ mộng thì lỏng dây hơn.
Viết nghị luận về sức mạnh của trí tưởng tượng
Đề “Suy nghĩ về vai trò của trí tưởng tượng” hay “Giới trẻ cần nuôi dưỡng trí tưởng tượng” có thể đi theo ba ý:
- Giải thích: tưởng tượng là năng lực dựng trong trí cái chưa có, khác ảo tưởng ở chỗ vẫn biết đâu là thật.
- Vai trò: là bước đầu của phát minh, của nghệ thuật; giúp đặt mình vào chỗ người khác để hiểu và thương họ.
- Cách nuôi: đọc sách, vẽ, kể chuyện, bớt để màn hình nghĩ hộ mình; phê phán lối học thuộc lòng không cần hiểu.
Một dẫn chứng gần gũi: chiếc máy bay đã nằm trong trí tưởng tượng của loài người hàng nghìn năm, qua truyện người bay, cánh diều, trước khi rời mặt đất. Ý ấy đủ mở bài mà không phải mượn câu danh ngôn nào.
Trí tưởng tượng từ lớp học đến bàn vẽ
Trí tưởng tượng phong phú là gì?
Là khi một người nghĩ ra được nhiều hình ảnh, nhiều phương án, và những ý ấy thường mới lạ. Trẻ bịa ra cả một vương quốc từ mấy chiếc hộp giấy là có trí tưởng tượng phong phú.
Tưởng tượng là gì, khác trí tưởng tượng thế nào?
Tưởng tượng là động từ, chỉ việc dựng hình trong trí. Trí tưởng tượng là danh từ, chỉ cái khả năng làm được việc ấy. “Em tưởng tượng” và “em có trí tưởng tượng” khác nhau như “em nhớ” và “em có trí nhớ”.
Trí tưởng tượng tiếng Anh là gì?
Là imagination; động từ imagine, tính từ imaginative (giàu tưởng tượng). “Ngoài sức tưởng tượng” thường dịch là beyond imagination.
Có rèn được khả năng tưởng tượng không?
Được. Đọc truyện chữ thay vì chỉ xem hình, tự kể tiếp một câu chuyện dở dang, vẽ lại cảnh vừa đọc là những cách đơn giản và không tốn kém.