Tính nữ là những phẩm chất, cách ứng xử và vai trò mà một xã hội thường gắn với người phụ nữ, như sự dịu dàng, nhạy cảm, biết chăm sóc và đồng cảm. Tính nữ không đồng nhất với giới tính sinh học: đàn ông cũng có thể mang những nét ấy. Gần đây cụm năng lượng tính nữ lan rộng trên mạng, nhưng đó là cách nói của các khóa học, sách phát triển bản thân hơn là một khái niệm khoa học.
| Nghĩa ngắn | Những nét tính cách, phong thái mà xã hội quen coi là của nữ giới |
| Tương đương tiếng Anh | Femininity |
| Từ gần | Nữ tính (thường dùng như tính từ: “trông rất nữ tính”) |
| Đối ứng | Tính nam (masculinity) |
| Sắc thái | Trung tính; nội dung thay đổi theo từng nền văn hóa, thời đại |

Tính nữ là tính cách hay giới tính?
Là tính cách, hay đúng hơn là một bó tính cách và cách cư xử, chứ không phải giới tính. Đây là điểm dễ hiểu sai nhất.
Các tài liệu tâm lý và xã hội học coi femininity là một chùm thuộc tính, lối hành xử và vai trò mà người ta quen gán cho phụ nữ, cho con gái. Những nét hay được kể tới là thanh nhã, dịu dàng, khiêm nhường, giàu đồng cảm, nhạy cảm, hay chăm lo cho người khác. Nhưng danh sách này không cố định. Mỗi xã hội, mỗi thời kì lại vẽ nó một kiểu; nét được khen là “nữ tính” ở nơi này có khi bị coi là yếu đuối ở nơi khác.
Giới khoa học vẫn còn tranh luận phần nào của tính nữ do sinh học quy định, phần nào do xã hội dạy mà thành. Điều chắc chắn hơn: vì nó là một tập hợp nét tính cách, cả nam lẫn nữ đều có thể mang ít hay nhiều. Người bố kiên nhẫn ngồi nghe con kể chuyện cả buổi tối cũng đang mang một nét tính nữ.
Tâm lý học cũng có những cách nhìn riêng. Nhà phân tâm học Carl Jung dùng chữ anima để gọi phần nữ tính nằm trong vô thức của người đàn ông, và animus cho phần nam tính trong người phụ nữ. Ở phương Đông, cặp âm dương cũng gợi ý tương tự: hai mặt mềm và cứng luôn đi cùng nhau trong mỗi người.
Tính nữ hiện ra qua đâu trong đời thường?
Không có thước nào đo được tính nữ. Những biểu hiện dưới đây chỉ là các nét người ta hay gọi tên khi dùng từ này, không dùng để chấm điểm ai “đủ nữ tính” hay chưa:
- Trong cảm xúc: dễ đồng cảm, nhận ra người bên cạnh đang buồn dù họ chưa nói.
- Trong cách chăm lo: để ý giấc ngủ, bữa ăn của người nhà; nhớ ngày sinh nhật của bạn bè.
- Trong giao tiếp: chuộng lắng nghe, hòa giải, tìm cách để mọi người cùng dễ chịu hơn là thắng thua.
- Trong phong thái: mềm mại, chậm rãi, chú ý tới cái đẹp nhỏ quanh mình.
Mạng xã hội thường gắn thêm các chuyện như cách ăn mặc, kiểu tóc, giọng nói. Những thứ ấy gần với chữ nữ tính theo nghĩa vẻ ngoài hơn là tính nữ theo nghĩa phẩm chất. Một cô gái tóc ngắn, mặc đồ thể thao vẫn có thể rất giàu tính nữ theo nghĩa thứ hai.
Tính nữ do đâu mà thành, và bị ép khuôn ra sao?
Có ít nhất ba lớp nguồn gốc chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là sinh học: một số nghiên cứu cho thấy nội tiết và cấu tạo cơ thể có ảnh hưởng tới vài khuynh hướng hành vi, dù mức độ ảnh hưởng còn được bàn cãi. Lớp thứ hai là gia đình và nhà trường: bé gái được khen khi ngoan, nhẹ nhàng; bé trai được khen khi mạnh mẽ, ít khóc. Lớp thứ ba là văn hóa rộng hơn: phim ảnh, quảng cáo, lời răn của ông bà.
Nho giáo từng gói tính nữ lý tưởng vào bốn chữ công, dung, ngôn, hạnh, được giải nghĩa ở bài tứ đức công dung ngôn hạnh của người xưa. Những chuẩn mực như vậy giúp người ta có hình mẫu để noi theo, nhưng cũng dễ thành chiếc khuôn chật.
Tác động tiêu cực xuất hiện khi tính nữ bị biến thành bổn phận chỉ dành cho phụ nữ: con gái thì phải nhường nhịn, phải lo việc nhà, không được nóng giận. Đàn ông mang nét dịu dàng lại bị trêu là “ẻo lả”. Cả hai trường hợp đều là định kiến về vai trò của mỗi giới. Nếu cảm giác phải gồng mình theo một khuôn mẫu giới khiến bạn căng thẳng kéo dài, nên trò chuyện với người tin cậy hoặc chuyên gia tâm lý.
Tính nữ, nữ tính và nữ quyền
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tính nữ | Những phẩm chất, phong thái gắn với nữ giới; dùng như danh từ | Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh |
| Nữ tính | Danh từ: giới tính nữ; tính từ: có đặc điểm của nữ giới như dịu dàng, mềm mại | Kiểu tóc trông rất nữ tính |
| Tính nam | Những phẩm chất xã hội gắn với nam giới: quyết đoán, mạnh mẽ, chủ động | Cân bằng tính nam và tính nữ |
| Nữ quyền | Quyền của phụ nữ; phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ | Phong trào nữ quyền |
Tính nữ và nữ tính nhiều khi được dùng thay nhau, khác biệt chủ yếu ở từ loại. Từ điển ghi nữ tính vừa là danh từ vừa là tính từ, phân biệt với nam tính; còn tính nữ hầu như chỉ đứng ở vị trí danh từ, hay gặp trong sách tâm lý, phê bình văn học. Nói “cô ấy rất nữ tính” thì tự nhiên; nói “cô ấy rất tính nữ” thì nghe lạ tai.
Nữ quyền là chuyện khác hẳn: nó nói về quyền và sự công bằng, không nói về tính cách. Một người có thể đề cao tính nữ mà vẫn ủng hộ nữ quyền. Ở Việt Nam, khung pháp lý cho chuyện này được nói ở bài bình đẳng giới theo luật và trong đời sống.
Đọc tính nữ trong thơ văn
Trong phê bình văn học Việt Nam, cụm “cảm quan tính nữ” hay được dùng khi đọc thơ của các nhà thơ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương thường được đọc như tiếng nói của người phụ nữ dám nói về thân phận mình; thơ Xuân Quỳnh được nhắc với những khát khao rất đàn bà: yêu hết mình, lo âu, muốn được che chở mà cũng muốn được tự do. Một số đặc điểm ấy được bàn ở bài phong cách thơ Xuân Quỳnh.
Đọc theo hướng này, học sinh chú ý tới những chi tiết rất đời: cái bếp, đứa con, nỗi chờ chồng, nỗi sợ thời gian. Có điều cần nhớ khi viết bài: tính nữ trong văn chương không phải chỉ là sự yếu mềm. Câu thơ dám nói thẳng điều mình muốn của một người phụ nữ cũng là tính nữ, chỉ là thứ tính nữ không chịu đứng sau tấm rèm.
Năng lượng tính nữ và những cách hiểu khác
Năng lượng tính nữ là gì?
Là cách gọi phổ biến trong sách, khóa học phát triển bản thân, chỉ những trạng thái như mềm mại, đón nhận, tĩnh lặng, sáng tạo, đối lập với “năng lượng tính nam” là hành động, lý trí, chủ động. Đây là hình ảnh ẩn dụ, không phải thuật ngữ được tâm lý học kiểm chứng.
Tính nữ và nữ tính khác nhau thế nào?
Hai từ gần nghĩa. Nữ tính hay dùng như tính từ để tả vẻ ngoài, phong cách; tính nữ thường là danh từ, chỉ cả bó phẩm chất bên trong, hay gặp trong văn viết.
Đàn ông có tính nữ không?
Có. Tính nữ là phẩm chất chứ không phải giới tính, nên đàn ông cũng có thể dịu dàng, giàu cảm xúc, giỏi chăm sóc. Đó không phải là điều cần sửa.
Tính nữ tiếng Anh là gì?
Là femininity; tính từ là feminine. Đối ứng là masculinity (tính nam) và masculine.