Kỹ nữ là từ Hán Việt chỉ người phụ nữ làm nghề mua vui cho khách trong xã hội cũ: đàn hát, múa, hầu rượu, và ở nghĩa hẹp mà từ điển tiếng Việt ghi nhận, là người làm nghề bán thân ở chốn lầu xanh. Từ này cũng viết là kĩ nữ. Bây giờ nó gần như chỉ còn gặp trong sách sử, truyện cổ và phim cổ trang.
| Nghĩa ngắn | Người phụ nữ làm nghề mua vui ở xã hội cũ; nghĩa hẹp là gái lầu xanh |
| Gốc từ | Hán Việt 妓女: kỹ (con hát, người làm nghề mua vui) + nữ (người con gái) |
| Cách viết | Kỹ nữ hoặc kĩ nữ, đều được chấp nhận |
| Sắc thái | Cũ, sách vở; tùy văn cảnh mà mang ý thương cảm hay coi rẻ |

Kỹ nữ và chữ 妓 mang bộ nữ
Chữ kỹ trong kỹ nữ viết là 妓: bên trái là bộ 女 (nữ, người phụ nữ), bên phải là chữ 支 (chi) đóng vai gợi âm đọc. Theo các từ điển chữ Hán, nghĩa sớm của 妓 là người con gái làm nghề hát múa; về sau chữ này mới mang thêm nghĩa người bán thân. Từ đó sinh ra một họ từ: ca kỹ (歌妓, người con gái làm nghề ca hát), kỹ viện (妓院, nơi kỹ nữ ở và tiếp khách), xướng kỹ (娼妓).
Chỗ dễ lẫn là chữ kỹ trong kỹ năng, kỹ thuật. Chữ ấy viết là 技, bộ thủ (tay), nghĩa là tài nghề, khéo léo, chẳng dính dáng gì đến chữ 妓. Hai chữ chỉ trùng âm Hán Việt. Muốn xem chữ 技 được dùng ra sao, có thể đọc bài về chữ kỹ trong kỹ năng.
Người xưa gọi ai là kỹ nữ?
Trong sách vở xưa, chữ kỹ nữ phủ lên khá nhiều thân phận. Có người được nuôi dạy cầm, kỳ, thi, họa để hầu những bữa tiệc của quan lại, văn nhân; có người bị buộc chặt vào kỹ viện, chỉ thoát ra khi có ai bỏ tiền chuộc thân. Điểm chung của họ là không được làm chủ đời mình và thường bị xã hội coi rẻ, dù chính những người coi rẻ ấy lại là khách quen.
Sang tiếng Việt, nghĩa thứ hai lấn át. Wiktionary tiếng Việt ghi kỹ nữ là người làm nghề mại dâm trong xã hội cũ, kèm nhãn “cũ”. Vì vậy khi đọc một câu như “nàng vốn là kỹ nữ nổi tiếng đất kinh thành”, cần nhìn văn cảnh: truyện đang nói về một người đàn hát tài hoa hay về chốn thanh lâu. Bài chuyện chữ thanh lâu 青樓 và lầu xanh kể kĩ nơi các kỹ nữ sống trong văn chương Trung Hoa và trong Truyện Kiều.
Kỹ nữ, ca nữ, đào nương khác nhau thế nào?
| Từ | Chỉ ai | Lưu ý |
|---|---|---|
| Kỹ nữ | Người phụ nữ làm nghề mua vui; nghĩa hẹp là gái lầu xanh | Từ cũ, nặng nghĩa xã hội |
| Ca nữ, ca kỹ | Người con gái làm nghề ca hát | Thiên về tiếng hát, tài đàn |
| Đào nương, ca nương | Người hát ca trù | Nghệ sĩ của một loại hình được UNESCO ghi danh năm 2009 |
| Gái lầu xanh, gái thanh lâu | Người ở chốn kỹ viện | Gần với nghĩa hẹp của kỹ nữ, giọng văn chương |
Dòng thứ ba cần nói thêm. Ca trù từng được hát ở các ca quán thời thuộc Pháp, có lúc bị gắn với chuyện ăn chơi, và tên gọi ả đào vì thế mang tiếng xấu. Nhưng đào nương là nghệ sĩ giữ một lối hát rất khó; gọi họ là kỹ nữ là xúc phạm cả người hát lẫn môn nghệ thuật ấy. Ca trù hiện nằm trong danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.
Người ca nữ bến Tầm Dương
Học sinh lớp 9 gặp một thân phận như thế trong Tì bà hành của Bạch Cư Dị. Năm 816, đang bị giáng làm Tư mã Giang Châu, nhà thơ tiễn khách ở bến Tầm Dương thì nghe tiếng tì bà từ một chiếc thuyền. Người đàn vốn là con hát ở kinh thành Trường An, thời trẻ được bao người săn đón; khi nhan sắc phai thì lấy một người lái buôn, chồng đi buôn xa, nàng ở lại một mình trên sông.
Bài thơ đáng nhớ ở chỗ nhà thơ không nhìn nàng từ trên xuống. Ông thấy mình, một ông quan bị đày, và nàng, một người hát đã lỡ thì, cùng là kẻ trôi dạt nơi chân trời. Phần đọc hiểu có trong bài soạn Tì bà hành của Bạch Cư Dị. Khi đọc, nên để ý rằng văn bản không dùng chữ kỹ nữ để chê; nó dùng thân phận người ca nữ để nói về những phận người lận đận nói chung.
Kỹ nữ khi đọc truyện cổ, xem phim cổ trang
Kỹ nữ và kĩ nữ, viết thế nào mới đúng?
Cả hai đều đúng. Đây là chuyện viết i hay y sau phụ âm k, giống kỹ năng và kĩ năng. Sách giáo khoa hiện hành nghiêng về cách viết “kĩ”, còn nhiều báo và từ điển vẫn giữ “kỹ”.
Kỹ nữ tiếng Anh là gì?
Nếu nói về những người đàn hát, tiếp khách sang trọng thời xưa, sách tiếng Anh hay dùng courtesan. Nếu ý là người làm nghề bán thân thì dùng prostitute, nghĩa thẳng và nặng hơn.
Kỹ nữ thời xưa có phải ai cũng giỏi đàn hát?
Không. Chỉ một số ít được dạy cầm kỳ thi họa để tiếp giới quyền quý. Phần đông sống khổ, ít học, và gần như không có lối ra khỏi nghề.
Có nên gọi người khác là kỹ nữ không?
Không nên. Dùng để nói về người đang sống, chữ này là lời lăng mạ. Nó chỉ hợp khi bàn chuyện lịch sử, văn chương, phim ảnh, và ngay cả khi ấy cũng nên viết với thái độ thương cảm như cách Bạch Cư Dị nhìn người ca nữ bến Tầm Dương.