Thoại bản là truyện kể viết bằng bạch thoại (lối nói thông thường) của Trung Quốc, vốn là bản ghi, bản dàn ý mà người kể chuyện chuyên nghiệp thời Tống dựa vào khi kể trước đám đông. Hiểu theo nghĩa thể loại, thoại bản là truyện ngắn, truyện vừa bằng bạch thoại, chặng đệm cho tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử ra đời về sau.
| Khái niệm | Văn bản truyện kể bằng bạch thoại, gốc từ nghề kể chuyện ở phố thị Trung Hoa |
| Nghĩa của chữ | Thoại (話): lời, chuyện kể; bản (本): bản, sách. Thoại bản là “bản chép chuyện kể” |
| Thuộc | Văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, thịnh ở đời Tống, Nguyên, được mô phỏng mạnh vào cuối Minh |
| Dấu hiệu nhận biết | Lời gần khẩu ngữ, giọng người kể đứng trước người nghe, xen thơ hoặc từ trong truyện |

Thoại bản ra đời từ đâu?
Hãy hình dung khu chợ đêm ở Khai Phong hay Hàng Châu thời Tống. Giữa hàng quà và gánh hát có một người đứng kể chuyện, ngày này qua ngày khác, mỗi buổi một đoạn. Nghề ấy gọi là thuyết thoại (說話), nghĩa đen là “nói chuyện”. Người kể chuyên một mảng: có người kể sử Tam Quốc, Ngũ Đại, có người kể chuyện nhà Phật, có người kể chuyện ma quái, án kiện, tình duyên trong một buổi là xong.
Để nhớ tình tiết và truyền nghề, họ cần một cái “bản”. Cái bản ghi lại chuyện kể đó là thoại bản. Khi nghề in phát triển dưới thời Tống, những bản này được in ra, đi xa hơn tiếng nói của một người kể, và dần trở thành sách để đọc chứ không chỉ để diễn.
Thoại bản trong lịch sử văn học
Định nghĩa đầy đủ có thể gói lại thế này: thoại bản là loại truyện kể ngắn hoặc vừa, viết chủ yếu bằng bạch thoại, đôi chỗ pha văn ngôn dễ hiểu, kể về một số ít nhân vật và sự kiện, thường không chia hồi. Từ điển bách khoa Anh ngữ ghi các thoại bản sớm nhất được nhắc tới từ thế kỉ XII; trang bách khoa văn học Trung Hoa của Ulrich Theobald thì gọi chúng là “kịch bản gốc cho người kể chuyện” và cho biết chữ này còn dùng cho kịch bản múa rối, hát tuồng đời Tống.
Thoại bản kể sử thời Tống, Nguyên thường được gọi là bình thoại (平話). Tiêu biểu là Tam quốc chí bình thoại, bản kể chuyện Tam Quốc đã có đầu có cuối từ đầu đời Nguyên. Sang cuối Minh, các nhà văn có học thức bắt chước giọng thoại bản để viết truyện mới cho người đọc thành thị; giới nghiên cứu gọi lớp truyện này là nghĩ thoại bản (擬話本), tức thoại bản mô phỏng. Nổi tiếng nhất là bộ “Tam ngôn” của Phùng Mộng Long và “Nhị phách” của Lăng Mông Sơ.
Đọc một trang thoại bản, nhận ra nhờ đâu?
- Có giọng người kể đứng trước khán giả. Lời truyện như đang nói với người nghe: nêu câu hỏi, chen lời bình, báo trước điều sắp kể. Đó là dấu vết của buổi kể chuyện ngoài chợ.
- Ngôn ngữ gần lời nói hằng ngày. Thoại bản dùng bạch thoại, không dùng văn ngôn trau chuốt như truyện của giới nho sĩ.
- Thơ, từ xen vào văn xuôi. Truyện thường mở bằng một bài thơ hay một mẩu chuyện nhỏ dẫn vào, giữa truyện có câu thơ tả cảnh, bình việc, cuối truyện lại có thơ chốt ý khuyên răn.
- Đề tài đời thường. Thoại bản kể chuyện thương nhân, thợ thủ công, quan xử án, đôi lứa yêu nhau ở thành thị, rộng hơn hẳn truyện văn ngôn chỉ xoay quanh kẻ sĩ.
Những tác phẩm lớn đi ra từ thoại bản
Ví dụ dễ thấy nhất với học sinh Việt Nam là Tam quốc diễn nghĩa. Trước La Quán Trung, chuyện Tam Quốc đã sống trong miệng người kể chuyện suốt nhiều đời và được gom thành Tam quốc chí bình thoại. La Quán Trung dựa vào lớp truyện kể ấy, đối chiếu thêm sử sách, viết thành bộ tiểu thuyết chương hồi. Đoạn Hồi trống Cổ Thành trong sách Ngữ văn 10 được trích từ chính bộ tiểu thuyết này, xem lại bài soạn đoạn Hồi trống Cổ Thành.
Thủy hử cũng có một tiền thân như vậy: Đại Tống Tuyên Hòa di sự, cuốn sách kiểu bình thoại có đoạn kể về Tống Giang khởi nghĩa rồi quy hàng. Từ những trang kể sơ lược đó, tiểu thuyết sau này dựng thành câu chuyện một trăm lẻ tám anh hùng Lương Sơn Bạc.
Điểm đáng chú ý là tác dụng của lối viết thoại bản khi đi vào tiểu thuyết: câu “muốn biết sự thể ra sao, xem hồi sau sẽ rõ” chính là cách người kể chuyện giữ chân khán giả đến buổi sau. Nhận ra điều này, đọc tiểu thuyết chương hồi sẽ thấy rõ nguồn gốc dân gian của nó, thay vì coi đó chỉ là công thức câu chữ. Muốn đặt thoại bản vào bức tranh rộng hơn của thể loại, có thể đọc thêm bài đặc trưng của thể loại tiểu thuyết.
Thoại bản, truyền kì và tiểu thuyết chương hồi khác nhau thế nào?
| Tiêu chí | Thoại bản | Truyện truyền kì | Tiểu thuyết chương hồi |
|---|---|---|---|
| Ngôn ngữ | Bạch thoại | Văn ngôn (chữ Hán cổ) | Phần lớn là bạch thoại |
| Nguồn gốc | Nghề kể chuyện ở phố thị | Ngòi bút văn nhân, nho sĩ | Tích tụ từ truyện kể dân gian, bình thoại |
| Độ dài | Ngắn hoặc vừa, thường không chia hồi | Ngắn | Dài, chia thành nhiều hồi |
| Ví dụ | Tam quốc chí bình thoại; các truyện trong Tam ngôn | Tiễn đăng tân thoại; Truyền kì mạn lục | Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử |
Cái bẫy nằm ở chữ thoại trong Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu. Tên sách có “thoại” nhưng đây là truyện truyền kì viết bằng văn ngôn, chính là cuốn mà Nguyễn Dữ phỏng theo khi viết Truyền kì mạn lục. Phần giải thích về thể truyền kì nằm ở bài truyện truyền kì có đặc điểm gì.
Luyện tập nhận diện thoại bản
Câu 1: Giải thích nghĩa từng chữ trong tên gọi “thoại bản”.
Đáp án: “Thoại” (話) là lời nói, câu chuyện; “bản” (本) là bản ghi, cuốn sách. Ghép lại, thoại bản là bản chép những câu chuyện được kể bằng lời, ban đầu phục vụ người kể chuyện ở chợ, phố thời Tống.
Câu 2: Trong các tác phẩm sau, tác phẩm nào là thoại bản: Tam quốc chí bình thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kì mạn lục?
Đáp án: Chỉ Tam quốc chí bình thoại. Tiễn đăng tân thoại có chữ “thoại” nhưng là truyện truyền kì viết bằng văn ngôn; Truyền kì mạn lục là truyện truyền kì của Nguyễn Dữ, cũng viết bằng chữ Hán văn ngôn.
Câu 3: Nêu hai dấu hiệu cho thấy tiểu thuyết chương hồi còn giữ dấu vết thoại bản.
Đáp án: Thứ nhất, lời kể có giọng người kể chuyện trực tiếp nói với người nghe, như câu kết hồi “xem hồi sau sẽ rõ”. Thứ hai, truyện hay chen thơ để mở đầu, bình luận hoặc khép lại một đoạn. Cả hai đều xuất phát từ buổi kể chuyện trước khán giả.
Câu 4: “Nghĩ thoại bản” khác thoại bản ở điểm nào?
Đáp án: Thoại bản gốc gắn với người kể chuyện chuyên nghiệp đời Tống, Nguyên. Nghĩ thoại bản là truyện do nhà văn đời Minh, Thanh sáng tác hoặc biên soạn lại, cố ý mô phỏng giọng và kết cấu thoại bản để phục vụ người đọc, ví dụ các tập của Phùng Mộng Long và Lăng Mông Sơ.
Thoại bản dưới mắt người đọc truyện cổ
Thoại bản nghĩa là gì trong văn học Trung Quốc?
Đó là tên một thể truyện kể bằng bạch thoại, gốc từ nghề kể chuyện thời Tống. Thoạt đầu là bản ghi cho người kể, về sau thành truyện để đọc, rồi được nhà văn đời Minh mô phỏng thành một dòng truyện ngắn riêng.
Thoại bản và bình thoại có phải một không?
Bình thoại là một nhánh của thoại bản, chủ yếu kể chuyện lịch sử dài hơi như chuyện Tam Quốc, Ngũ Đại. Nói thoại bản là nói chung cả loại; nói bình thoại là chỉ phần truyện kể sử.
Thoại bản có phải tiểu thuyết không?
Theo nghĩa hẹp thì chưa. Thoại bản thường ngắn hoặc vừa và không chia hồi, còn tiểu thuyết chương hồi dài, chia hồi rõ ràng. Có thể coi thoại bản là bậc thang trước tiểu thuyết.
Thoại bản phát triển mạnh vào thời nào?
Nghề kể chuyện và các bản thoại bản thịnh nhất ở đời Tống, Nguyên. Đến cuối đời Minh, thể loại này có thêm một đợt nở rộ nhờ các tập nghĩ thoại bản, trước khi nhường chỗ cho tiểu thuyết dài.