Thanh mai trúc mã là đôi bạn khác giới chơi thân với nhau từ thuở bé, thường được nhắc khi hai người ấy lớn lên thành người yêu hoặc vợ chồng. Nghĩa đen là “quả mơ xanh, ngựa tre”, hai món đồ chơi của trẻ con trong một bài thơ của Lý Bạch. Hỏi “thanh mai trúc mã nghĩa là gì” thì đó là câu trả lời ngắn gọn nhất.
| Nghĩa ngắn | Đôi bạn trai gái thân nhau từ nhỏ, thường nảy sinh tình yêu khi lớn |
| Gốc từ | Thành ngữ Hán Việt 青梅竹馬: thanh mai (mơ xanh) + trúc mã (ngựa tre) |
| Xuất xứ | Bài Trường Can hành của Lý Bạch, thời Đường |
| Sắc thái | Trong sáng, hoài niệm; hay gặp trong truyện, phim tình cảm |

Thanh mai trúc mã từ bài Trường Can hành
Trường Can hành (長干行) là một bài thơ ngũ ngôn của Lý Bạch. Trường Can là tên một xóm ở vùng Kim Lăng (Nam Kinh ngày nay). Bài thơ là lời một người vợ trẻ nhớ chồng đi buôn xa, và nàng mở đầu bằng kỉ niệm thuở cả hai còn bé tí. Các chữ Hán của đoạn này (bản lưu trên Wikisource tiếng Trung) đọc theo âm Hán Việt như sau:
Lang kỵ trúc mã lai,
Nhiễu sàng lộng thanh mai.
Đồng cư Trường Can lý,
Lưỡng tiểu vô hiềm sai.
Dịch nghĩa: Chàng cưỡi ngựa tre chạy đến, vòng quanh chiếc sàng nghịch những quả mơ xanh. Cùng ở trong xóm Trường Can, hai đứa nhỏ chẳng hề ngờ vực gì nhau. Chữ “sàng” (床) thường hiểu là giường; có bản dịch hiểu là thành giếng.
Hai hình ảnh ngựa tre và mơ xanh về sau được ghép lại thành thành ngữ. Câu thơ cuối cũng sinh ra một thành ngữ khác cùng nghĩa: lưỡng tiểu vô sai (兩小無猜), hai đứa trẻ hồn nhiên không nghi kị. Phần tiếp của bài kể cô gái mười bốn tuổi làm vợ chàng, còn thẹn chẳng dám ngẩng mặt; mười lăm tuổi mới tươi cười, nguyện gắn bó đến cùng; mười sáu tuổi thì chàng đi xa. Vậy là “thanh mai trúc mã” ngay từ gốc đã là câu chuyện về đôi bạn nhỏ thành vợ chồng.
Ai muốn đọc thêm thơ của Thi tiên có thể xem tuyển thơ Lý Bạch kèm bản dịch, hoặc tìm hiểu cuộc đời nhà thơ Lý Bạch.
Thanh mai trúc mã nghĩa là gì trong cách nói hôm nay?
Từ điển Wiktionary tiếng Anh giảng 青梅竹馬 là đôi trai gái chơi đùa hồn nhiên bên nhau, hay một cặp nam nữ có tình cảm trong sáng với nhau từ thời thơ ấu, tức childhood sweethearts. Mục tiếng Việt của Wiktionary ghi thêm: chủ yếu dùng trong truyện, chỉ người bạn khác giới từ nhỏ rồi lớn lên thành người yêu.
Khi người Việt dùng, cụm từ này có hai mức:
- Mức nhẹ: chỉ đôi bạn trai gái lớn lên cùng nhau. Hai đứa là thanh mai trúc mã, nhà sát vách, đi học cùng một chiếc xe đạp.
- Mức thường gặp hơn: đôi bạn ấy thành người yêu, vợ chồng. Đám cưới của cô dâu chú rể là chuyện tình thanh mai trúc mã mười lăm năm.
Cũng có lúc người ta nói về chính một người: “cậu ấy là thanh mai trúc mã của tớ”, tức bạn từ thuở nhỏ, ngầm ý có chút tình cảm hơn tình bạn.
Thanh mai trúc mã khác bạn thân, bạch nguyệt quang ra sao?
| Cách gọi | Nghĩa | Khác với thanh mai trúc mã |
|---|---|---|
| Lưỡng tiểu vô sai | Hai đứa trẻ hồn nhiên, không nghi kị nhau | Cùng xuất xứ, gần như đồng nghĩa nhưng ít dùng |
| Bạn nối khố | Bạn thân từ nhỏ, rất thân thiết | Không nhất thiết khác giới, không ngầm ý yêu đương |
| Tri kỷ | Người hiểu mình sâu sắc | Có thể quen lúc trưởng thành, không cần lớn lên cùng |
| Bạch nguyệt quang | Người mình thương mà không với tới, sáng mãi trong lòng | Nhấn vào nỗi tiếc nuối, không nhấn vào tuổi thơ chung |
Trong truyện ngôn tình, hai kiểu nhân vật này hay được đặt đối nhau: một bên là người bạn lớn lên cùng, một bên là hình bóng đẹp đẽ ở xa. Muốn hiểu kiểu thứ hai, đọc bài người trong mộng xa vời trong truyện tình Trung Quốc. Còn nếu chỉ là đôi bạn thân không có ý gì khác, gọi đúng nhất vẫn là tình bạn; bài hiểu đúng về tình bạn và người bạn tốt bàn kĩ chuyện này.
Vì sao truyện và phim mê mô típ thanh mai trúc mã?
Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đôi bạn thanh mai trúc mã là mô típ quen của tiểu thuyết, phim học đường và truyện tranh. Tiếng Nhật có từ riêng là osananajimi (幼馴染), nghĩa rộng hơn là bạn từ thuở nhỏ, không phân biệt trai gái. Lí do mô típ này được ưa khá dễ hiểu: hai người đã biết hết tật xấu của nhau, cái khó không nằm ở chỗ làm quen mà ở chỗ chuyển từ bạn thành người yêu. Người đọc thích chờ khoảnh khắc ấy.
Ngoài đời thì đơn giản hơn: không phải đôi bạn nào lớn lên cạnh nhau cũng thành một đôi, và cũng chẳng cần như vậy. Một người bạn từ thuở để chỏm, biết mình từ hồi còn sún răng, đã là điều đáng quý.
Băn khoăn quanh bốn chữ thanh mai trúc mã
Thanh mai trúc mã có phải là người yêu không?
Không bắt buộc. Nghĩa gốc là đôi bạn khác giới chơi thân từ nhỏ; còn trong cách nói phổ biến, cụm từ này hay được dùng khi đôi bạn ấy thành người yêu hoặc vợ chồng.
Thanh mai là ai, trúc mã là ai?
Trong bài thơ, chàng trai cưỡi ngựa tre (trúc mã), còn hai đứa cùng nghịch quả mơ xanh (thanh mai). Bây giờ nhiều người quen gọi cô gái là “thanh mai”, chàng trai là “trúc mã”, dù trong thơ gốc không chia rạch ròi như vậy.
Hai bạn cùng giới có gọi là thanh mai trúc mã được không?
Theo nghĩa gốc, cụm từ dùng cho một trai một gái. Hai bạn cùng giới lớn lên với nhau thường được gọi là bạn nối khố, bạn từ thuở nhỏ.
Thanh mai trúc mã tiếng Anh là gì?
Gần nhất là childhood sweethearts (đôi người yêu từ thuở nhỏ). Nếu chỉ là bạn thì dùng childhood friend.