Tham luận là phát biểu ý kiến đã chuẩn bị trước về một vấn đề được đưa ra bàn ở hội nghị, hội thảo; cũng là tên gọi của chính bài phát biểu hay bài viết ấy. Một đại biểu “đọc tham luận” tức là lên trình bày phần góp ý của mình vào chủ đề chung. Bài tham luận có thể được đọc tại chỗ hoặc in trong kỷ yếu.
| Nghĩa | Phát biểu ý kiến có chuẩn bị về vấn đề của hội nghị; bài phát biểu, bài viết góp ý như thế |
| Gốc từ | Hán Việt 參論: tham (dự vào) + luận (bàn bạc) |
| Loại từ | Động từ (tham luận về…) và danh từ (một bản tham luận) |
| Ngữ cảnh | Hội nghị, đại hội, hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên môn |

Chữ “tham” trong tham luận là gì?
Nhiều người đoán chữ “tham” ở đây là tham trong tham lam. Không phải. Tham luận viết bằng chữ Hán là 參論. Chữ 參 Thiều Chửu giảng là xen vào, can dự vào; nó cũng là chữ “tham” trong tham gia, tham dự, tham mưu, tham khảo. Chữ 論 là bàn bạc, xem xét cho ra phải trái, cùng gốc với luận điểm, dư luận, bình luận.
Ghép lại, tham luận là góp lời vào một cuộc bàn chung. Người đọc tham luận không chủ trì hội nghị, cũng không ra kết luận cuối cùng. Họ là một trong nhiều tiếng nói, mang đến một góc nhìn, một kinh nghiệm hay một kết quả nghiên cứu để mọi người cùng xét.
Ở hội nghị, ai đọc tham luận?
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, tham luận là phát biểu ý kiến đã chuẩn bị trước về vấn đề được đặt ra trong hội nghị. Mấy chữ “đã chuẩn bị trước” rất quan trọng. Một người giơ tay nói ngẫu hứng giữa buổi họp thì đó là phát biểu, chưa phải tham luận. Tham luận được viết ra, đăng ký với ban tổ chức, xếp vào chương trình.
Từ này dùng được cả hai cách. Làm động từ: “Đại diện nhà trường tham luận về kinh nghiệm dạy đọc sách.” Làm danh từ: “Hội thảo nhận được ba mươi bản tham luận, mười bản được chọn trình bày.” Danh từ phổ biến hơn hẳn, hay đi kèm các chữ “bài”, “bản”, “ý kiến”.
Tham luận gặp nhiều nhất ở ba nơi. Một là đại hội của các đoàn thể, nơi đại diện từng đơn vị báo lên cách làm của mình. Hai là hội thảo khoa học, nơi tham luận gần với một bài nghiên cứu ngắn, có tóm tắt, từ khóa và tài liệu tham khảo. Ba là các buổi tọa đàm văn chương, như hai bài tham luận bàn về thơ Mai Văn Phấn viết cho một hội thảo về thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn.
Tham luận, báo cáo, tiểu luận, thảo luận
| Từ | Là gì | Khác tham luận ở chỗ |
|---|---|---|
| Báo cáo | Văn bản trình bày tình hình, kết quả công việc | Báo cáo chính thường do đơn vị chủ trì trình bày; tham luận là phần góp ý của đại biểu |
| Phát biểu | Nói ý kiến của mình trước mọi người | Rộng hơn, có thể ngẫu hứng; tham luận luôn có chuẩn bị |
| Tiểu luận | Bài nghiên cứu ngắn về một vấn đề (thường là bài tập ở đại học) | Viết để nộp, chấm điểm; không gắn với một hội nghị |
| Thảo luận | Nhiều người cùng trao đổi qua lại | Là hoạt động chung; tham luận là một lượt lời trong đó |
| Tranh luận | Bàn cãi giữa các ý kiến trái nhau | Có đối đáp, phản bác; tham luận không cần có người phản bác |
Tham luận khác báo cáo chủ yếu ở vị trí người nói: một bên góp ý, một bên tổng kết. Học sinh hay nhầm tham luận với tiểu luận vì hai chữ chỉ khác một âm. Tiểu luận (小論) là “bàn nhỏ”, một bài viết nghị luận cỡ vừa; có thể đọc thêm về thể tiểu luận trong văn học và nhà trường. Tham luận thì nhấn vào việc đem ý kiến góp vào một cuộc họp cụ thể.
Một bài tham luận thường có mấy phần?
Không có khuôn chung bắt buộc; mỗi ban tổ chức ra thể lệ riêng. Thể lệ của nhiều hội thảo khoa học trong nước yêu cầu một bài tham luận có tên bài, tóm tắt, từ khóa và ba phần chính: đặt vấn đề, nội dung, kết luận, cuối cùng là tài liệu tham khảo. Tham luận ở đại hội, hội nghị tổng kết thì nhẹ hơn: mở đầu bằng lời chào và lý do phát biểu, giữa là kinh nghiệm hoặc đề xuất, cuối là lời kiến nghị.
Một tham luận hay thường chỉ ôm một ý chính và nói cho đến nơi. Thời gian dành cho mỗi người trên bục thường ngắn, nên bản in trong kỷ yếu có thể dài, còn bản đọc phải gọn lại. Kỹ năng đứng nói cho người nghe theo kịp cũng là chuyện của cách trình bày trước người nghe.
Đọc tham luận, gửi tham luận, tóm tắt tham luận
Tham luận nghĩa là gì trong hội thảo khoa học?
Là bài viết trình bày một kết quả nghiên cứu hay quan điểm học thuật, gửi tới ban tổ chức hội thảo. Bài được duyệt thì in vào kỷ yếu, một số bài được chọn trình bày trực tiếp trong phiên họp.
Bài tham luận khác bài phát biểu ở chỗ nào?
Mọi tham luận đều là phát biểu, nhưng không phải phát biểu nào cũng là tham luận. Tham luận được chuẩn bị bằng văn bản và có trong chương trình; phát biểu có thể chỉ là vài câu nói tại chỗ.
Tham luận tiếng Anh là gì?
Tùy ngữ cảnh: ở hội thảo khoa học thường dịch là conference paper hay paper; khi chỉ phần trình bày bằng lời thì là presentation hoặc speech. Không có một từ tiếng Anh nào khớp trọn nghĩa.
Ai được mời viết tham luận?
Thường là đại diện các đơn vị, các nhà nghiên cứu hay người có kinh nghiệm thực tế về chủ đề của hội nghị. Ở hội thảo mở, ai cũng có thể gửi bài theo thể lệ; ban tổ chức sẽ đọc rồi chọn.
Lần tới nhận giấy mời có dòng “đề nghị đơn vị chuẩn bị tham luận”, hãy hiểu đó là lời nhờ viết sẵn một bài ngắn, có ý riêng, chứ không phải chỉ đến ngồi nghe.