Ôn tập giữa học kì 2 nằm ở trang 78–81 sách Tiếng Việt lớp 1 Cánh diều tập 2, ngay sau Bài 137 khép lại phần Học vần. Đây là bài đánh giá gồm hai phần: I. Đọc thành tiếng (ba bài đọc) và II. Đọc hiểu, viết (A. Đọc, B. Viết).

Ôn tập giữa học kì 2 gồm những gì?
- I. Đọc thành tiếng (trang 78–80): mỗi học sinh đọc một đoạn thơ hoặc đoạn văn khoảng 40 tiếng, chọn trong ba bài: Mời vào, Hươu cao cổ dạy con, Ngựa vằn nhanh trí.
- II. Đọc hiểu, viết (trang 80–81), là bài luyện tập: A. Đọc gồm nối từ ngữ với hình và đọc thầm bài Quà tặng mẹ; B. Viết gồm điền ng hoặc ngh và tập chép bài Ngủ rồi.
Bài ôn giúp con tự kiểm tra: đọc có trôi chảy không, hiểu bài đọc không, viết có đúng chính tả không. Ba mẹ có thể cho con làm như một bài kiểm tra nhỏ ở nhà.
I. Đọc thành tiếng (trang 78–80)
Sách ghi: Mỗi học sinh đọc một đoạn thơ, đoạn văn khoảng 40 tiếng. Con chọn (hoặc bốc thăm) một đoạn trong ba bài dưới đây, đọc to, rõ, đúng tốc độ.
Bài đọc Mời vào (trang 78)
Bài thơ của nhà thơ Võ Quảng (sách in phần trích), mỗi dòng chỉ ba bốn tiếng, đọc rất vui tai. Bài thơ như một trò chơi gõ cửa: thỏ đến gõ cửa, rồi nai, rồi gió. Chủ nhà muốn biết có đúng là bạn không nên bảo thỏ cho xem đôi tai dài, bảo nai cho xem cặp sừng (gạc). Đến lượt gió thì chủ nhà mời vào ngay, và gió cùng chủ nhà làm bao nhiêu việc: đón trăng, quạt mát, làm hoa lá reo vui, đẩy thuyền buồm đi khắp nơi.
Cách đọc:
- Tiếng gõ cửa (ba tiếng cốc) đọc nhanh, gọn, có ngắt nhẹ sau mỗi dấu phẩy.
- Câu hỏi của chủ nhà đọc lên giọng; câu trả lời của khách đọc vui, rõ tên con vật.
- Đọc đúng các tiếng: gạc, kiễng, trèo, soạn sửa, buồm, khắp miền.
Gạc là sừng có nhiều nhánh của con nai. Kiễng chân là nhón gót, đứng trên đầu ngón chân cho cao hơn. Soạn sửa là chuẩn bị, sắp xếp.
Bài đọc Hươu cao cổ dạy con (trang 79)
Bài có hai đoạn (đánh số 1, 2 trong sách), kể cách hươu mẹ dạy con:
- Đoạn 1: hươu mẹ đứng mà sinh con, nên hươu con vừa ra đời đã rơi từ trên cao xuống đất. Hươu mẹ liền huých cho con đứng lên; con mỏi chân nằm xuống, mẹ lại thúc dậy.
- Đoạn 2: con đứng được rồi, mẹ lại đẩy cho ngã để con tự đứng lên. Mẹ làm vậy để con sớm biết đứng vững, chạy được, không bị thú dữ bắt ăn thịt.
Cách đọc: đọc đúng số 2 mét (đọc là hai mét); nghỉ hơi ở dấu chấm; đọc rõ các tiếng khó: chào đời, ngay đơ, thúc, mồi. Nằm ngay đơ là nằm thẳng, không cựa quậy. Câu hỏi tự luyện: Vì sao hươu mẹ lại đẩy con ngã? (Để con tập tự đứng dậy, lớn lên biết tự bảo vệ mình.)
Bài đọc Ngựa vằn nhanh trí (trang 79–80)
Truyện phỏng theo 365 chuyện kể mỗi ngày (Hạnh Mai kể), có ba đoạn:
- Đoạn 1: một buổi tối đi chơi trong rừng, ngựa vằn bị bầy sư tử vây quanh, sợ run cả người.
- Đoạn 2: vòng vây khép dần. Ngựa vằn nghĩ ra cách: chạy vòng tròn thật nhanh, bụi bay mù mịt.
- Đoạn 3: sư tử nhìn mãi chỉ thấy những vòng sọc đen trắng quay tít, đầu óc quay cuồng; ngựa vằn nhân lúc đó chạy thoát.
Cách đọc: đọc giọng hồi hộp ở đoạn 1, 2, giọng vui ở cuối bài. Đọc đúng: sọc, gầm gừ, cầm cập, siết, guồng chân, mù mịt, mụ mẫm. Guồng chân là chân chạy liên tục, nhanh như bánh xe quay. Mụ mẫm là đầu óc rối, không nghĩ được gì. Câu hỏi tự luyện: Nhờ đâu ngựa vằn thoát khỏi bầy sư tử? (Nhờ nhanh trí, biết dùng bộ lông sọc của mình làm sư tử hoa mắt.)
II. Đọc hiểu, viết – A. Đọc (trang 80–81)
Phần II là bài luyện tập, gồm A. Đọc (2 câu) và B. Viết (2 câu).
Câu 1 (trang 80): Nối từ ngữ với hình
Sáu từ ngữ: suối chảy, hươu sao, đêm khuya, trăng khuyết, ảo thuật, thuyền buồm. Sáu hình: (1) con hươu nhỏ lông có đốm trắng; (2) vầng trăng hình lưỡi liềm trên nền trời xanh thẫm; (3) ngôi nhà nhỏ nằm giữa vòm cây tối sẫm; (4) con thuyền có nhiều cánh buồm trắng trên biển; (5) dòng nước chảy giữa rừng cây; (6) chú ảo thuật gia mặc com-lê, rút chú thỏ trắng ra từ chiếc mũ.
Trả lời:
| Hình 1 | hươu sao |
| Hình 2 | trăng khuyết |
| Hình 3 | đêm khuya |
| Hình 4 | thuyền buồm |
| Hình 5 | suối chảy |
| Hình 6 | ảo thuật |
Các từ này có những vần đã học ở phần Học vần: khuya (uya), khuyết (uyêt), thuyền (uyên), thuật (uât). Hươu sao là loài hươu có đốm trắng trên lưng như những ngôi sao.
Câu 2 (trang 81): Đọc thầm
Bài đọc thầm: Quà tặng mẹ, phỏng theo 365 chuyện kể mỗi ngày (Thu Hương kể). Câu hỏi: Chọn từ em thích để hoàn thành câu: ngoan, hiếu thảo, hạnh phúc, cảm động. Các con của thỏ mẹ rất ▢. Thỏ mẹ rất ▢.
Trả lời: Bài Quà tặng mẹ kể: cô thỏ có bảy con nhỏ nên lúc nào cũng tất bật. Một buổi sáng, cô bước vào bếp thì thấy tấm thiệp các con tự vẽ để mừng sinh nhật mẹ. Cô ôm tấm thiệp vào lòng, rưng rưng nước mắt, thấy mệt mỏi bay đi đâu hết.
Con chọn từ mình thích, miễn là hợp nghĩa:
| Các con của thỏ mẹ rất ▢. | ngoan (hoặc hiếu thảo) |
| Thỏ mẹ rất ▢. | cảm động (hoặc hạnh phúc) |
Hai từ ngoan, hiếu thảo nói về các con (biết thương mẹ, nhớ ngày sinh nhật mẹ); hai từ cảm động, hạnh phúc nói về cảm xúc của mẹ khi nhận quà. Ví dụ một cách trả lời: Các con của thỏ mẹ rất hiếu thảo. Thỏ mẹ rất cảm động.
II. Đọc hiểu, viết – B. Viết (trang 81)
Câu 1 (trang 81): Điền chữ: ng hoặc ngh
Đoạn văn: Cô thỏ làm việc vất vả, chẳng ▢ỉ ngơi. Tấm thiệp ngộ ▢ĩnh của các con làm cô thỏ ▢ạc nhiên, cảm động, bao mệt nhọc tan biến hết.
Trả lời:
| Ô thứ nhất (đứng trước i) | ngh: nghỉ ngơi |
| Ô thứ hai (đứng trước i) | ngh: ngộ nghĩnh |
| Ô thứ ba (đứng trước a) | ng: ngạc nhiên |
Quy tắc: viết ngh khi đứng trước e, ê, i; viết ng khi đứng trước các chữ còn lại (a, o, ô, ơ, u, ư). Con xem lại Bài 22 ng, ngh nếu còn nhầm.
Câu 2 (trang 81): Tập chép
Bài tập chép: Ngủ rồi, bài thơ 4 dòng của nhà thơ Phạm Hổ (sách in kèm tranh gà mẹ ấp đàn gà con).
Trả lời: Con nhìn sách, chép bài thơ vào vở theo các bước:
- Viết tên bài ở giữa dòng.
- Bài có 4 dòng, xen kẽ lời kể và lời nói: dòng 1 và dòng 3 là lời kể, kết thúc bằng dấu hai chấm; dòng 2 và dòng 4 là lời nói, mở đầu bằng dấu gạch ngang.
- Chữ đầu mỗi dòng viết hoa. Dòng 2 kết thúc bằng dấu chấm hỏi, dòng 4 kết thúc bằng dấu chấm.
- Chú ý các tiếng khó: ngủ (ng trước u), nhao nhao, đấy.
- Chép xong, con soát lại từng chữ, từng dấu câu.
Bài thơ vui ở chỗ: đàn gà con trả lời là đã ngủ rồi, nhưng nếu đã ngủ thật thì sao còn nói được! Đọc xong, con hãy thử nói vì sao bài thơ buồn cười.
Ghi nhớ sau bài ôn tập giữa học kì 2
Sau tuần ôn tập, con đã đọc được những bài văn, bài thơ dài khoảng 40 tiếng, biết chọn từ hợp nghĩa và viết đúng ng, ngh. Phần tiếp theo của sách là Luyện tập tổng hợp, bắt đầu với chủ điểm Gia đình và bài đọc Chuột con đáng yêu. Con có thể so sánh với bài Ôn tập giữa học kì 1 để thấy mình đã tiến bộ thế nào.