Soạn bài Trên những chặng đường hành quân (trích nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc) – văn bản đọc thứ hai của Bài 4 “Sự thật và trang viết (Phóng sự, nhật kí)”, sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tập một (trang 108–111). Bài soạn trả lời đủ các câu hỏi Trước khi đọc, Đọc văn bản và Sau khi đọc theo đúng thứ tự trong sách, lời giải ngắn gọn, có dẫn chứng từ hai trang nhật kí.
Kiến thức cần nắm trước khi soạn bài Trên những chặng đường hành quân
Văn bản gồm hai trang nhật kí cách nhau hơn nửa năm. Nắm được hoàn cảnh viết và mạch của từng trang, em sẽ trả lời các câu hỏi phía dưới dễ hơn.

Tác giả Nguyễn Văn Thạc
Nguyễn Văn Thạc (14/10/1952 – 30/7/1972) sinh ở làng Bưởi, Hà Nội, trong một gia đình đông con làm nghề thủ công. Năm 1971, khi đang là sinh viên khoa Toán – Cơ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh cùng nhiều bạn học lên đường nhập ngũ (ngày 6/9/1971). Sau sáu tháng huấn luyện, tháng 4/1972 đơn vị anh hành quân vào chiến trường; anh hi sinh ở Quảng Trị ngày 30/7/1972, khi chưa tròn hai mươi tuổi.
Tác phẩm Mãi mãi tuổi hai mươi và đoạn trích
Cuốn nhật kí được Nguyễn Văn Thạc viết từ tháng 10/1971 đến tháng 6/1972 và gửi về cho người anh trai trước khi vào mặt trận. Năm 2005, Nhà xuất bản Thanh niên in cuốn nhật kí kèm thư từ, hình ảnh của anh thành sách Mãi mãi tuổi hai mươi. SGK trích hai ngày: 2/10/1971 (những ngày đầu trong quân ngũ) và 10/4/1972 (dừng chân ở Nghi Lộc – Nghệ An trên đường vào Nam). Muốn so sánh với đoạn trích học ở lớp 10, em đọc thêm bài tác giả – tác phẩm Mãi mãi tuổi hai mươi.
Bố cục văn bản
- Phần 1 (trang nhật kí 2/10/1971): cảm xúc của anh sinh viên vừa khoác áo lính – nhớ bạn, tự hào với bộ quân phục, ngôi sao trên mũ và buổi gác đầu tiên.
- Phần 2 (trang nhật kí 10/4/1972, đến “… gần đến đất lửa”): chặng dừng chân ở Nghi Lộc, ở nhờ nhà dân, bất ngờ gặp lại thầy giáo cũ.
- Phần 3 (còn lại): hồi tưởng chuyến tàu bị bom chặn, ngày rời Hà Nội và cảm xúc trên chuyến tàu vào Nam.
Trước khi đọc (trang 108)
Câu hỏi này giúp em liên hệ với tuổi trẻ của chính mình trước khi đọc nhật kí của một người lính hai mươi tuổi.
Câu 1: Vì sao tuổi thanh xuân được xem là tuổi đẹp nhất trong cuộc đời? (trang 108)
Trả lời:
Tuổi thanh xuân được xem là đẹp nhất vì đó là quãng đời con người có sức khỏe dồi dào, trái tim nhạy cảm và nhiều ước mơ nhất. Ở tuổi ấy, ta dám thử, dám sai, dám dấn thân cho một lí tưởng; ta có những tình bạn, tình yêu trong trẻo và những lựa chọn định hình cả cuộc đời về sau. Thanh xuân đẹp còn vì nó ngắn ngủi: nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống hết mình và có ích. Với thế hệ Nguyễn Văn Thạc, tuổi hai mươi đẹp nhất khi được hiến dâng cho Tổ quốc.
Đọc văn bản (trang 109)
Hai câu hỏi trong khi đọc đặt ở bên lề văn bản, gắn với hai đoạn nhật kí cụ thể.
Câu 1 (Suy luận): Những chi tiết này thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
Các chi tiết được hỏi là đoạn tả bộ quân phục xanh và ngôi sao trên mũ trong nhật kí ngày 2/10/1971.
Trả lời:
Những chi tiết ấy cho thấy niềm vui sướng, tự hào và cảm động của anh sinh viên khi trở thành người lính. Anh “trìu mến” khoác lên mình màu áo mới và gọi đó là “Màu xanh bất diệt của sự sống.” Nhìn ngôi sao trên mũ, anh không chỉ thấy vẻ đẹp như sao Hôm ngày nào mà còn thấy lửa, máu của những trận đánh sắp tới: “Ta như thấy trong màu kì diệu ấy, có cả hồng cầu của trái tim ta…” Niềm tự hào vì thế gắn với ý thức trách nhiệm và sự sẵn sàng hi sinh.
Câu 2 (Tưởng tượng): Qua đoạn văn này, bạn hình dung thế nào về bối cảnh của cuộc hành quân?
Đoạn văn được hỏi thuộc nhật kí ngày 10/4/1972, khi đơn vị dừng ở Nghi Lộc – Nghệ An.
Trả lời:
Cuộc hành quân diễn ra vào tháng 4/1972, khi cả nước dồn sức cho chiến trường miền Nam. Đoàn quân đi tàu từ Hà Nội, dừng ở ga Quán Hành rồi ở nhờ nhà dân. Làng quê Nghệ An hiện lên yên ả: nhà vắng, cánh đồng xanh màu ngô non, khoai, lạc; hầm trú ẩn chỉ nông và lộ thiên. Nhưng sự yên ả ấy rất mong manh, vì như người viết nhận xét: “Không ai có thể ngờ đây chính là đất lửa, hay ít ra, gần đến đất lửa.” Trước đó, tàu đã phải dừng giữa đêm vì đường phía trước bị ném bom. Bối cảnh vì thế vừa bình dị vừa căng thẳng, khốc liệt.
Sau khi đọc (trang 110–111)
Sáu câu hỏi sau khi đọc tập trung vào đặc trưng thể loại nhật kí, biện pháp tu từ, tính xác thực và cái “tôi” của người viết.
Câu 1: Nêu những đặc điểm của thể loại nhật kí được thể hiện trong văn bản (trang 110)
Trả lời:
- Ghi theo ngày tháng: mỗi phần mở đầu bằng thời điểm cụ thể (2/10/1971, 10/4/72), có cả địa điểm (Nghi Lộc – Nghệ An).
- Người viết xưng “mình”, “ta”: tác giả vừa là người kể vừa là nhân vật chính, thuật lại những gì bản thân trải qua.
- Sự việc có thật, vừa mới xảy ra: nhập ngũ, đứng gác, đi tàu vào Nam, ở trọ nhà dân, nghe tin chiến thắng…
- Viết cho chính mình nên rất riêng tư, chân thành: có lời tự nhủ, lời gọi bạn, những câu cảm thán, những dấu chấm lửng bỏ dở như dòng suy nghĩ đang chảy.
- Tự sự kết hợp biểu cảm, miêu tả: ghi chép sự việc đan xen cảm xúc và suy ngẫm, khiến trang nhật kí giàu chất văn.
Câu 2: Nêu tên và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong đoạn văn (trang 110)
Đoạn văn SGK trích là đoạn tả buổi gác đầu tiên, từ “Buổi gác đầu tiên là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật kí…” đến “Cây lá đang dồn nhựa để trổ ra một mùa quả chín…”
Trả lời:
| Biện pháp | Dẫn chứng | Tác dụng |
|---|---|---|
| Liệt kê kết hợp ẩn dụ | buổi gác “là đêm trăng sáng, là bài thơ, là một trang nhật kí” | Biến phiên gác vốn vất vả thành khoảnh khắc thơ mộng; cho thấy tâm hồn lãng mạn, háo hức của người lính trẻ. |
| Điệp ngữ, lời gọi | “ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời” | Như lời ru vỗ về làng xóm; nhấn mạnh niềm sung sướng, hãnh diện khi được canh giữ giấc ngủ bình yên của nhân dân. |
| So sánh, nhân hóa | “Những mái nhà nghiêng như mi mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành” | Làm mái nhà trở nên có hồn, gần gũi như người thân; bộc lộ tình yêu quê hương trìu mến. |
| Điệp cấu trúc, liệt kê | “Bưởi đã cuối mùa, ổi đã cuối mùa…” | Gợi hương vị quen thuộc của làng quê lúc giao mùa; hình ảnh cây lá dồn nhựa gợi sức sống và niềm tin vào mùa quả chín. |
Nhờ các biện pháp tu từ, đoạn nhật kí mang chất thơ, cho thấy một cái “tôi” vừa lãng mạn vừa ý thức sâu sắc về bổn phận của người lính.
Câu 3: Liệt kê chi tiết có tính xác thực trong nhật kí ngày 10/4/1972 và nêu tác dụng (trang 111)
Đề yêu cầu chú ý địa danh, con người, thời gian, sự kiện… trong trang nhật kí này.
Trả lời:
- Địa danh: Nghi Lộc – Nghệ An, ga Quán Hành, thành phố Vinh, ga Phố Tráng, Cửa Việt, đồng bằng sông Cửu Long, Quảng Bình, Mỏ Trạng – Yên Thế, Cửa Nam, ga Phủ Lý, ga Ninh Bình, sông Đáy, chùa Non Nước.
- Con người: thầy Khang dạy Toán 2, mẹ Thung, bé Hòa, cô Kim Loan – sinh viên Trường Đại học Sư phạm Vinh, em bé ở ga Phủ Lý, tổ ba người Giáp Văn Khương.
- Thời gian: ngày 10/4/72; ba giờ sáng trên tàu; bốn giờ sáng hôm kia ở bãi bạch đàn; 12 giờ trưa ngày 9/4/1972 rời Hà Nội.
- Sự kiện: tàu phải dừng vì phía trước bị ném bom; đơn vị nghe tin ta chiếm cảng Cửa Việt; Quảng Bình có ngày bắn rơi 10 máy bay; lệnh lên đường và những lá thư ném xuống đường khi tàu qua Cửa Nam.
Tác dụng: các chi tiết cụ thể, có thể kiểm chứng khiến trang nhật kí đáng tin như một tư liệu lịch sử về mùa hè năm 1972; đồng thời giúp người đọc hình dung sống động hành trình vào Nam và hiểu vì sao cảm xúc của người viết lại dâng trào đến thế.
Câu 4: Văn bản có sử dụng yếu tố hư cấu hay không? (trang 111)
Đề: Theo bạn, văn bản trên có sử dụng yếu tố hư cấu hay không? Nếu có, hãy nêu ví dụ; nếu không, cho biết vì sao.
Trả lời:
Văn bản không sử dụng yếu tố hư cấu. Nhật kí được viết để ghi lại những việc vừa xảy ra với chính người viết, ban đầu chỉ dành cho riêng mình, nên không có nhu cầu bịa đặt. Mọi con người, địa danh, mốc thời gian (thầy Khang, mẹ Thung, ga Quán Hành, trưa 9/4/1972…) đều cụ thể, có thật. Những câu giàu hình ảnh như “Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn.” là tưởng tượng, cảm xúc của người viết chứ không phải sự việc bịa ra, nên không làm mất tính xác thực.
Câu 5: Xác định cảm hứng chủ đạo của văn bản (trang 111)
Trả lời:
Cảm hứng chủ đạo là niềm tự hào, háo hức của người thanh niên được cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gắn với tình yêu quê hương đất nước và lí tưởng sống cao đẹp. Cảm hứng ấy xuyên suốt từ niềm vui khoác áo lính, niềm hãnh diện khi “thức canh trời” cho xóm làng, đến nỗi xúc động trên chuyến tàu vào Nam: “Biết bao nhiêu lần hành quân, nhưng chẳng lần nào xúc động như chuyến tàu này cả”. Văn bản khép lại bằng lời thúc giục đầy khí thế: “Tất cả đang giục giã anh chiến sĩ, hãy đi đi, hãy đi – và chiến thắng.”
Câu 6: Nhận xét về cái “tôi” của tác giả nhật kí qua văn bản (trang 111)
Trả lời:
- Một cái “tôi” giàu cảm xúc, lãng mạn: nhìn buổi gác thành bài thơ, nhìn ngôi sao thành sao Hôm, nhìn mái nhà như mi mắt; luôn nhớ về bạn bè, giảng đường.
- Một cái “tôi” có lí tưởng và trách nhiệm: tự nhận “Ai ra đi cũng với lòng say lí tưởng”, mong được đến tận chiến trường, sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ.
- Một cái “tôi” trẻ trung, lạc quan: thấy chuyến đi xa “vẫn cứ thú vị”, đùa vui cả chuyện sống chết.
- Một cái “tôi” gắn bó với nhân dân: xúc động trước bà mẹ, em bé, những cô gái vẫy chào; lắng nghe tiếng nói của cả đất nước qua lời một đứa trẻ: “Các chú đánh xong giặc Mỹ mà về nhé!”
Đó là cái “tôi” tiêu biểu cho thế hệ thanh niên thời chống Mỹ: sống đẹp, sống có ích và biết đặt tình riêng trong vận mệnh chung của dân tộc.
Kết luận
Soạn bài Trên những chặng đường hành quân, em cần nắm chắc ba điều: đặc trưng thể loại nhật kí (ngày tháng cụ thể, người viết xưng “mình”, sự việc có thật, cảm xúc riêng tư), các chi tiết xác thực trong trang nhật kí 10/4/1972 và cái “tôi” vừa lãng mạn vừa giàu lí tưởng của Nguyễn Văn Thạc. Đọc thêm đoạn trích Mãi mãi tuổi hai mươi ở lớp 10 sẽ giúp em hiểu trọn vẹn hơn tâm hồn người lính hai mươi tuổi này. Sau trang nhật kí viết cho chính mình, phần Viết của Bài 4 lại yêu cầu viết cho người khác: thư trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm.
Đề kiểm tra cuối kì có thể chọn ngữ liệu ngoài sách, nên em cần luyện thêm với đề có đáp án trong bài ôn tập học kì I Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo.
Xem thêm: