Nhật kí Đặng Thùy Trâm là văn bản đọc mở đầu Bài 3 (Nhật kí, phóng sự, hồi kí) trong sách Ngữ văn 12 Cánh diều, tập một. Bài viết tổng hợp những điều em cần nắm: nội dung ba trang nhật kí được trích, cuộc đời nữ bác sĩ – liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, số phận đặc biệt của cuốn nhật kí, thể loại, ngôi kể, cách chia bố cục, những giá trị về nội dung và nghệ thuật cùng sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Đoạn trích trong SGK gồm ba trang nhật kí ghi vào các ngày 20.7.1968, 1.1.1970 và 19.5.1970, giữa các trang có những chỗ lược bớt. Nhật kí được công bố lần đầu năm 2005 và còn được bảo hộ bản quyền, vì vậy dưới đây chỉ tóm lược nội dung từng phần kèm vài câu trích ngắn; toàn văn đoạn trích em đọc trong SGK.

Ngày 20.7.1968 – công việc ở bệnh xá và những học trò nhỏ. Bệnh xá ngập thương binh nặng mà thiếu người, nên người viết phải gánh cùng lúc việc quản lí, chữa trị và giảng dạy, làm từ tinh mơ đến khuya. Vất vả là vậy, chị vẫn thấy mình đang được cống hiến trọn sức, và vui khi những người lính bị thương dần hồi phục. Chị đến với lớp học y bằng tình thương của người chị, quý những học trò nghèo mà ham học: Thuận vừa chịu tang cha đã lại cười, lại hát; Liên vừa học vừa làm, lúc nào cũng xông xáo đi đầu. Trang nhật kí khép lại bằng niềm cảm phục dành cho “những người anh hùng vô danh” của miền Nam.
Ngày 1.1.1970 – suy nghĩ về tuổi trẻ và ước mơ. Thêm một tuổi, người viết chạnh buồn khi nghĩ tuổi ba mươi không còn xa. Chị tiếc tuổi xuân đã trôi qua trong khói lửa, tiếc hạnh phúc riêng chưa trọn, rồi tự trả lời rằng thế hệ mình phải tạm cất ước mơ riêng: “Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước.” Chị nhận ra tuổi trẻ ấy đã rắn rỏi lên giữa chiến trường, vẫn được sưởi ấm bởi những ánh mắt tin yêu của đồng đội, bạn bè, và tự nhủ phải giữ niềm vui, giữ màu xanh của tuổi trẻ.
Ngày 19.5.1970 – nhận thư mẹ. Lá thư làm trào dâng nỗi nhớ gia đình. Chị thú nhận ao ước được trở về bên gia đình, dẫu chỉ chốc lát, nhưng vẫn khẳng định: “Nhưng con vẫn ra đi vì lí tưởng.” Giữa tiếng bom đạn, trong lòng chị luôn vang lên tiếng nói thân thương của miền Bắc, của Hà Nội với hàng lim đường Đại La, sóng sông Hồng. Người con gái bình tĩnh mỉm cười dưới làn đạn lại không giấu được nước mắt mỗi khi nghĩ đến những người thân yêu ở cả hai miền.
Thông tin tác giả Đặng Thùy Trâm
Đặng Thùy Trâm (26/11/1942 – 22/6/1970) sinh ở Huế nhưng lớn lên ở Hà Nội. Gia đình chị là gia đình trí thức theo nghề y: cha chị, ông Đặng Ngọc Khuê, làm bác sĩ ngoại khoa; mẹ, bà Doãn Ngọc Trâm, dạy ở Đại học Dược Hà Nội. Thời học Trường Chu Văn An, chị nổi tiếng hát hay, học giỏi và sinh hoạt trong câu lạc bộ thơ văn của trường.
Chị theo học Đại học Y Hà Nội, ra trường năm 1966 và tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Sau mấy tháng hành quân, đầu năm 1967 chị tới Quảng Ngãi, được phân công phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ – nơi chủ yếu chữa cho thương binh, bệnh binh. Ngày 27/9/1968, chị vào Đảng.
Ngày 22/6/1970, khi đang đi công tác từ Ba Tơ xuống vùng đồng bằng, chị bị phục kích và hi sinh khi chưa tròn 28 tuổi. Năm 2006, chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều bệnh viện, trạm xá, đường phố ở các địa phương mang tên chị; câu chuyện của chị được đưa lên màn ảnh qua bộ phim Đừng đốt của đạo diễn Đặng Nhật Minh.
Đặng Thùy Trâm không phải nhà văn chuyên nghiệp. Chị để lại hai cuốn sổ nhật kí viết trong khoảng hai năm cuối đời, và chính những trang viết riêng tư ấy đã đưa tên tuổi chị đến với hàng triệu người đọc trong và ngoài nước.
Thông tin tác phẩm Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Xuất xứ của văn bản
Văn bản được trích từ cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm; SGK ghi theo bản in của NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009. Hai cuốn sổ nhật kí ghi từ ngày 8/4/1968 đến ngày 20/6/1970, tức hai ngày trước khi chị hi sinh.
Hành trình đặc biệt của cuốn nhật kí
Sau khi chị mất, hai cuốn sổ rơi vào tay quân đội Mỹ. Frederic Whitehurst, một sĩ quan quân báo Mỹ, đã không hủy chúng mà giữ lại suốt 35 năm, đến cuối tháng 4/2005 mới trao trả cho gia đình. Cùng năm 2005, nhật kí được nhà phê bình Vương Trí Nhàn biên tập và in thành sách, nhanh chóng trở thành hiện tượng xuất bản với hàng trăm nghìn bản bán ra, rồi được dịch sang nhiều thứ tiếng.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: nhật kí – loại văn bản phi hư cấu, ghi chép theo từng ngày những việc người viết làm, thấy, nghĩ.
- Phương thức biểu đạt chính: kể (tự sự) kết hợp miêu tả và biểu cảm; cảm xúc, suy ngẫm chiếm vị trí nổi bật.
Ngôi kể và chủ thể trần thuật
Văn bản dùng ngôi thứ nhất. Chủ thể trần thuật chính là tác giả, xưng “mình” khi tự ghi chép và xưng “con” ở trang viết như lời trò chuyện với mẹ. Có lúc chị còn tự gọi tên mình như đang nói với một người khác, cho thấy cuộc đối thoại nội tâm rất thật.
Bố cục Nhật kí Đặng Thùy Trâm có mấy phần?
Đoạn trích trong SGK chia làm 3 phần, mỗi phần ứng với một ngày:
- Phần 1 (20.7.1968): công việc hằng ngày ở bệnh xá, lớp học và hình ảnh các học trò.
- Phần 2 (1.1.1970): suy nghĩ về tuổi trẻ, ước mơ và lí tưởng.
- Phần 3 (19.5.1970): tình thương gia đình, nỗi nhớ quê nhà khi nhận thư mẹ.
Ba phần đi từ thế giới bên ngoài (công việc, con người xung quanh) vào thế giới bên trong (suy tư về bản thân, tình cảm gia đình), cùng hướng về một chân dung thống nhất của người viết.
Giá trị nội dung
- Tái hiện chân thực đời sống nơi tuyến đầu kháng chiến chống Mỹ: thương vong nhiều, thiếu người, thiếu thốn, những trận càn và máy bay bắn phá.
- Khắc họa vẻ đẹp của một trí thức trẻ: tận tụy với người bệnh, thương học trò, sống có lí tưởng, sẵn sàng gác hạnh phúc riêng vì độc lập của đất nước.
- Bộc lộ những cảm xúc rất đời thường: tiếc tuổi xuân, khao khát yêu thương, nhớ mẹ, nhớ Hà Nội – làm cho hình ảnh người chiến sĩ gần gũi và đáng thương mến hơn.
- Ngợi ca thế hệ thanh niên thời chiến, những người anh hùng không tên tuổi đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Giá trị nghệ thuật
- Đậm tính phi hư cấu: ngày tháng, địa điểm, nhân vật, sự việc đều có thật.
- Lời văn tự nhiên, giản dị như lời tự sự, nhiều câu cảm thán, câu hỏi tu từ bộc lộ trực tiếp cảm xúc.
- Kết hợp kể với tả: chân dung học trò, thương binh hiện lên bằng vài nét chọn lọc.
- Thủ pháp đối lập giữa hoàn cảnh khốc liệt và tâm hồn trong sáng, giữa sự kiên cường và nỗi mềm lòng của người viết.
Ý nghĩa của đoạn trích với người đọc hôm nay
Trang nhật kí giúp người trẻ hiểu cái giá của hòa bình qua một số phận cụ thể, đồng thời nhắc rằng sống có lí tưởng không đối lập với việc biết yêu thương, biết buồn, biết nhớ. Đây cũng là lí do cuốn sách được nhiều thế hệ đọc và truyền tay nhau.
Sơ đồ tư duy Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Sơ đồ dưới đây gom sáu ý chính về tác giả và đoạn trích để em ôn nhanh.

Tóm tắt đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Hai đoạn tóm tắt ngắn giúp em nắm nhanh nội dung ba trang nhật kí trong SGK.
Mẫu 1 – Tóm tắt Nhật kí Đặng Thùy Trâm ngắn gọn
Ba trang nhật kí ghi lại một ngày làm việc quá tải ở bệnh xá Đức Phổ năm 1968 cùng niềm thương mến các học trò; những suy tư ngày đầu năm 1970 về tuổi xuân đã gửi lại chiến trường và ước mơ độc lập, tự do; nỗi nhớ gia đình, Hà Nội khi nhận thư mẹ tháng 5/1970. Qua đó hiện lên một nữ bác sĩ trẻ tận tụy, có lí tưởng mà giàu tình cảm.
Mẫu 2 – Tóm tắt Nhật kí Đặng Thùy Trâm theo ba phần
Tháng 7/1968, bệnh xá đông thương binh mà ít người, bác sĩ Thùy Trâm một mình lo quản lí, chữa trị và dạy học từ sớm đến khuya. Chị vui khi người bệnh khỏi dần, thương và cảm phục những học trò nghèo như Thuận, Liên. Ngày đầu năm 1970, chị chạnh buồn vì tuổi ba mươi đã gần, tuổi xuân trôi qua giữa chiến tranh, nhưng hiểu rằng ước mơ của thế hệ mình lúc này là đất nước độc lập, tự do; tình yêu thương của đồng đội giúp chị vững lòng. Tháng 5/1970, nhận thư mẹ, chị nhớ nhà, nhớ Hà Nội da diết, ao ước được về dù chỉ chốc lát. Chị vẫn bình thản trước bom đạn, chỉ rơi nước mắt khi nghĩ đến người thân, và vẫn khẳng định mình ra đi vì lí tưởng.
Lời kết
Những trang viết riêng tư trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm đã trở thành tiếng nói chung của một thế hệ thanh niên thời chống Mỹ. Nắm chắc tiểu sử tác giả, hành trình của cuốn nhật kí, bố cục ba phần theo ba ngày và các đặc trưng của thể nhật kí sẽ giúp em soạn bài và làm tốt bài viết so sánh hai tác phẩm kí ở cuối Bài 3.
Xem thêm:
- Ngữ văn 12 Cánh diều
- Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo): Tác giả, tác phẩm
- Tiểu sử Đặng Thùy Trâm, nữ bác sĩ và cuốn nhật kí trở về sau 35 năm