Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân giúp em hoàn thành phần chuẩn bị, các câu hỏi bên lề và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 111 – 115, Bài 10 – chủ đề Nghị luận văn học, sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập hai. Văn bản là bài bình giảng của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long về truyện ngắn Làng của Kim Lân – tác phẩm em đã đọc ở Bài 4 (tập một), vì vậy khi soạn em nên mở lại truyện để đối chiếu từng dẫn chứng.
Tìm hiểu chung về văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cơ bản về người viết, xuất xứ và cách chia đoạn của văn bản.

Tác giả Nguyễn Văn Long
Nguyễn Văn Long quê Hưng Yên, sinh năm 1945. Ông là nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, là một trong các tác giả bộ giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) dùng trong các trường sư phạm. Nhiều bài bình giảng của ông về thơ, truyện thời kháng chiến được giáo viên và học sinh dùng làm tài liệu tham khảo.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: trích từ sách Giảng văn văn học Việt Nam hiện đại, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2000. Đoạn in trong SGK có lược bớt (các chỗ đánh dấu […]).
- Thể loại: bài bình giảng một tác phẩm truyện, thuộc kiểu văn bản nghị luận văn học.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Bố cục: ba phần đã được đánh số 1, 2, 3 trong văn bản (xem Câu 1 phần câu hỏi cuối bài).
Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân – Chuẩn bị (trang 111)
Phần chuẩn bị yêu cầu em đọc trước văn bản, nối kết với bài đã học ở tập một và làm quen với cách soi vào nội tâm nhân vật.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu về Nguyễn Văn Long
Đọc trước văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nguyễn Văn Long.
Trả lời:
Khi đọc, em đánh dấu ba phần được đánh số và gạch chân những câu văn của Kim Lân được trích trong bài. Về người viết: Nguyễn Văn Long (sinh 1945, quê Hưng Yên) là nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại ở Đại học Sư phạm Hà Nội; bài viết này trích từ cuốn Giảng văn văn học Việt Nam hiện đại (2000).
Câu 2: Liên hệ với truyện ngắn Làng đã học
Liên hệ với nội dung đọc hiểu truyện ngắn Làng của Kim Lân đã học ở Bài 4 (sách Ngữ văn 9, tập một) để đọc hiểu văn bản này.
Trả lời:
Em nhớ lại mấy ý chính của truyện: ông Hai là nông dân làng Chợ Dầu, phải đi tản cư nhưng lúc nào cũng nhớ và hay khoe về làng; khi nghe tin làng theo giặc, ông đau khổ, xấu hổ, không dám ra khỏi nhà; đến khi tin ấy được cải chính, ông mừng rỡ đi khoe nhà mình bị Tây đốt. Nắm chắc cốt truyện này, em sẽ dễ thấy bài nghị luận chọn những chi tiết nào để phân tích và vì sao chọn như vậy.
Câu 3: Tìm hiểu cách phân tích tâm lí nhân vật
Tìm hiểu về cách phân tích tâm lí nhân vật trong tác phẩm văn học.
Trả lời:
Soi vào nội tâm nhân vật nghĩa là chỉ ra nhân vật nghĩ gì, cảm thấy gì và tâm trạng ấy thay đổi ra sao. Người phân tích thường:
- xác định tình huống làm nảy sinh hoặc làm biến đổi tâm trạng;
- dựa vào lời nói, hành động, cử chỉ, nét mặt, ý nghĩ (độc thoại nội tâm) của nhân vật;
- so sánh tâm trạng ở các thời điểm khác nhau để thấy sự vận động;
- rút ra ý nghĩa: tâm trạng ấy nói lên phẩm chất gì, tư tưởng gì của tác phẩm.
Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân – Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 111 – 114)
Bảy câu hỏi, gợi ý đặt bên lề văn bản giúp em theo dõi cách người viết lập luận trong lúc đọc.
Câu 1: Chú ý cách nêu luận điểm của bài viết (trang 111)
Trả lời:
Luận điểm được nêu thẳng ngay từ câu mở đầu: Làng có cốt truyện đơn giản, mọi thứ xoay quanh tâm trạng ông Hai, tức là một “kiểu cốt truyện tâm lí”. Cách nêu trực tiếp, ngắn gọn ấy đóng vai trò như kim chỉ nam cho cả bài: người đọc biết trước rằng phần sau sẽ lần theo từng chặng cảm xúc của nhân vật. Ở phần 2, các đoạn cũng thường mở bằng một câu nêu ý khái quát rồi mới đưa dẫn chứng từ truyện.
Câu 2: Người viết dựa vào yếu tố nào để phân tích tâm trạng ông Hai? (trang 112)
Trả lời:
- Yếu tố chính là tình huống truyện: Kim Lân đẩy ông Hai vào một thử thách bất ngờ – nghe tin dân làng Chợ Dầu lập tề theo giặc. Người viết bám vào tình huống ấy để soi rõ những biến động sâu kín trong lòng nhân vật.
- Bên cạnh đó, người viết dựa vào các chi tiết miêu tả cụ thể: nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói, ý nghĩ của ông Hai, đặt trạng thái của ông lúc chưa biết tin cạnh trạng thái khi đã biết tin để làm nổi bật sự đối lập.
Câu 3: Chú ý lời văn của người phân tích và lời văn của Kim Lân (trang 112)
Trả lời:
- Lời văn của Kim Lân có khi được dẫn trực tiếp, đặt trong ngoặc kép (như câu tả ông Hai lúc nghe tin dữ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.”); có khi được thuật lại gần như nguyên ý mà không dùng ngoặc kép (như đoạn kể cảnh tối tối ông sang nhà bác Thứ).
- Lời của người bình giảng là những câu nhận xét, lí giải, khái quát: vì sao ông Hai hành động như vậy, chi tiết ấy cho thấy điều gì.
- Hai lớp lời đan cài nhịp nhàng: dẫn chứng đi trước hoặc đi sau lời bình, nhờ đó nhận xét của người viết vừa có căn cứ vừa giữ được giọng văn sinh động của truyện.
Câu 4: Tác giả đã phân tích tình thế nào ở đoạn này? (trang 113)
Trả lời:
Đó là tình thế ngặt nghèo của gia đình ông Hai sau khi tin dữ lan ra:
- Cả nhà sống thấp thỏm, không ai dám nói to, bọn trẻ không dám đùa nghịch; ông Hai trốn biệt trong nhà, đến chỗ bác Thứ cũng không dám sang.
- Mụ chủ nhà lại muốn đuổi khéo vì nghe đồn có lệnh không cho người làng Chợ Dầu ở nhờ – gia đình ông gần như hết đường sinh sống.
- Người viết chỉ ra rằng chính trong cảnh bế tắc ấy, cuộc giằng co nội tâm của ông Hai mới lộ rõ: ông chợt nghĩ “Hay là quay về làng?” nhưng gạt đi ngay, vì về làng là chịu làm nô lệ cho giặc. Cuối cùng ông chọn đứng về phía kháng chiến: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”
Câu 5: Việc so sánh với một số tác phẩm khác nhằm làm rõ điều gì? (trang 113)
Trả lời:
Người viết nhắc tới những câu thơ trong Đồng chí (Chính Hữu) và Nhớ (Hồng Nguyên), nơi những chàng trai quê để lại ruộng nương, mái nhà, giếng nước gốc đa để ra trận. Phép so sánh này nhằm:
- khẳng định tình cảm của ông Hai không phải trường hợp riêng lẻ mà tiêu biểu cho người nông dân thời kháng chiến chống Pháp: yêu làng nhưng đặt đất nước lên trên;
- chỉ ra rằng việc tình quê hòa quyện với lòng yêu nước và ý thức giai cấp chính là điểm mới trong tâm hồn quần chúng cách mạng, được văn học giai đoạn này đặc biệt quan tâm;
- mở rộng tầm nhìn của bài viết từ một truyện ngắn ra cả một giai đoạn văn học, làm lí lẽ thêm sức thuyết phục.
Câu 6: Bằng chứng ở đây làm sáng tỏ cho ý kiến nào? (trang 114)
Trả lời:
Bằng chứng là đoạn ông Hai ôm thằng con út vào lòng, hỏi con nhà ở đâu, có muốn về làng Chợ Dầu không. Đoạn này làm sáng tỏ ý kiến: cuộc trò chuyện với đứa con nhỏ chính là đỉnh điểm trong diễn biến tâm trạng, là lúc ông Hai bày tỏ cảm động nhất tấm lòng thành thật, thiêng liêng dành cho làng quê, đất nước và cách mạng. Đoạn đối thoại tiếp theo, khi thằng bé giơ tay hô “Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”, càng chứng minh lòng thủy chung của ông với Cụ Hồ, với cuộc kháng chiến.
Câu 7: Phần 3 này có phải là kết luận của văn bản không? (trang 114)
Trả lời:
Phần 3 chưa phải là phần kết luận của bài viết gốc. Đoạn này đặt truyện Làng vào dòng văn học cách mạng, xếp truyện vào nhóm tác phẩm sớm thành công nhất khi viết về tình cảm của nhân dân với cách mạng, rồi bắt đầu lí giải nguyên nhân thành công (vốn sống gắn bó với nông thôn, ngòi bút truyện ngắn vững vàng). Dấu […] ở cuối cho thấy bài viết còn tiếp và SGK đã lược bớt. Trong phạm vi đoạn trích, phần 3 chỉ làm nhiệm vụ đánh giá chung, khép lại các ý đã phân tích.
Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân – Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 115)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em nắm bố cục, vấn đề nghị luận và cách lập luận của văn bản.
Câu 1: Nội dung chính của ba phần được đánh số (trang 115)
Xác định nội dung chính của ba phần được đánh số trong văn bản trên.
Trả lời:
| Phần | Giới hạn | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Phần 1 | Câu mở đầu, đến “cốt truyện tâm lí” | Nêu nhận định khái quát: Làng là truyện có cốt truyện đơn giản, xoay quanh tâm trạng ông Hai. |
| Phần 2 | Tiếp theo đến “dám đơn sai” | Lần theo các chặng tâm trạng của ông Hai: nỗi nhớ làng nơi tản cư; cú sốc khi nghe tin làng theo giặc; nỗi tủi nhục, bế tắc và quyết định đứng về phía kháng chiến; cuộc trò chuyện với đứa con út. |
| Phần 3 | Phần còn lại | Đánh giá vị trí, thành công của truyện Làng trong văn học cách mạng và lí giải nguyên nhân. |
Câu 2: Vấn đề được làm rõ và nêu ở phần nào? (trang 115)
Qua văn bản, tác giả Nguyễn Văn Long đã tập trung làm rõ vấn đề gì? Vấn đề ấy được nêu ở phần nào?
Trả lời:
- Vấn đề: tình yêu làng của người nông dân ông Hai đã gắn liền, hòa nhập với lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến và tình cảm với Cụ Hồ; vấn đề này được soi rọi qua sự vận động trong tâm trạng nhân vật – nét đặc sắc của một truyện có cốt truyện tâm lí.
- Vị trí: phần 1 đã nêu hướng tiếp cận (truyện xoay quanh tâm trạng ông Hai), còn vấn đề trọng tâm được phát biểu rõ ở phần 2, trong câu nhận xét rằng chính lúc gia đình ông bị dồn vào thế khốn đốn, tình yêu làng quê hòa làm một với lòng yêu nước mới hiện ra sâu sắc nhất. Phần 3 khẳng định lại giá trị của truyện ở tầm khái quát.
Câu 3: Nhận xét cách nêu và triển khai luận điểm (trang 115)
Nhận xét về cách nêu và cách triển khai làm rõ luận điểm của người viết ở văn bản trên.
Trả lời:
- Cách nêu: trực tiếp, rõ ràng; luận điểm chung nằm ngay câu đầu, các luận điểm nhỏ thường đứng ở đầu đoạn.
- Cách triển khai: đi theo trình tự diễn biến của truyện – trước khi nghe tin, lúc nghe tin, những ngày tủi nhục, lúc đối thoại với con. Mỗi chặng đều có dẫn chứng là câu văn của Kim Lân, kèm lời phân tích, lí giải.
- Người viết dùng phép đối lập (càng tự hào trước đây thì càng đau đớn bây giờ) và mở rộng so sánh với thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên để tăng sức nặng cho lí lẽ.
- Nhận xét chung: lập luận chặt chẽ, mạch lạc, dẫn chứng chọn lọc, lời văn vừa khách quan vừa thấm cảm xúc nên rất thuyết phục.
Câu 4: Những điểm đặc sắc được phân tích và điều em hiểu thêm (trang 115)
Để làm rõ vấn đề, người viết đã phân tích những điểm đặc sắc nào của truyện ngắn Làng? Em hiểu thêm được điều gì về truyện Làng của Kim Lân sau khi học văn bản trên?
Trả lời:
a. Những điểm đặc sắc được phân tích:
- Kiểu cốt truyện tâm lí: truyện ít sự kiện, chủ yếu khai thác thế giới bên trong nhân vật.
- Tình huống thử thách bất ngờ (tin làng theo giặc) làm bật ra chiều sâu tâm trạng.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế qua nét mặt, cử chỉ, hành động, nỗi sợ hãi ám ảnh, độc thoại nội tâm.
- Sự đối lập giữa niềm tự hào trước kia và nỗi tủi nhục khi nghe tin dữ.
- Đoạn đối thoại của hai bố con – cao trào bộc lộ tình yêu làng, yêu nước và lòng trung thành với Cụ Hồ.
b. Điều em hiểu thêm:
- Thói quen tối nào cũng sang nhà bác Thứ “nói chuyện” thực chất là cách ông Hai giải tỏa nỗi nhớ làng, chứ không cần người nghe đáp lời.
- Câu nói với đứa con nhỏ thật ra là lời ông tự giãi bày, tự minh oan cho tấm lòng mình.
- Tình yêu làng của ông Hai không mất đi khi ông quyết “thù” làng; nó chỉ được đặt dưới tình yêu lớn hơn là đất nước.
- Thành công của truyện gắn với vốn sống nông thôn phong phú của Kim Lân – nhà văn còn viết nhiều truyện ngắn hay về người nông dân, tiêu biểu như Vợ nhặt.
Câu 5: Câu văn trình bày khách quan và chủ quan (trang 115)
Nêu và phân tích một số câu văn thể hiện cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan của tác giả trong văn bản.
Trả lời:
Trình bày khách quan là thuật lại, giới thiệu những gì vốn có trong tác phẩm; trình bày chủ quan là bộc lộ đánh giá, cảm xúc, thái độ riêng của người viết.
| Cách trình bày | Câu văn | Phân tích |
|---|---|---|
| Khách quan | “Bởi vậy, trong cuộc trò chuyện, chỉ có ông Hai nói và bác Thứ ngồi nghe.” | Thuật lại đúng sự việc trong truyện, không xen lời khen chê. |
| Khách quan | “Suốt ngày ông không bước ra đến ngõ.” | Ghi lại hành động của nhân vật sau khi nghe tin dữ, như một dữ kiện. |
| Chủ quan | “Tác giả đã diễn tả rất cụ thể và sâu sắc […]” | Các từ đánh giá “rất cụ thể”, “sâu sắc” thể hiện sự tán thưởng của người viết với ngòi bút Kim Lân. |
| Chủ quan | “Thì ra, tình yêu làng quê ở ông Hai trước sau vẫn son sắt và sâu nặng” | Cụm “thì ra” và các từ “son sắt”, “sâu nặng” bộc lộ cảm xúc, sự trân trọng của người viết đối với nhân vật. |
Câu 6: Em thích nhất đoạn văn nào? Vì sao? (trang 115)
Trả lời:
Gợi ý: Em thích nhất đoạn phân tích cuộc trò chuyện giữa ông Hai và đứa con út. Đoạn văn chọn được dẫn chứng đắt giá: những câu hỏi rất đỗi bình thường của người cha lại chất chứa cả nỗi đau và niềm tin. Người viết chỉ ra rằng ông Hai không có ai để tâm sự nên đành nói với đứa trẻ chưa hiểu chuyện, và qua đó ông tự khẳng định lòng mình với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ. Đọc đoạn này, em thấy rõ hơn vì sao chi tiết nước mắt ông lão chảy ròng ròng lại xúc động đến thế.
Nội dung và nghệ thuật văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân
Phần tổng kết giúp em ghi nhớ ý chính sau khi soạn.
Nội dung
Bằng việc lần theo các chặng tâm trạng của ông Hai, bài viết soi rõ tình yêu làng gắn bó với tình yêu nước và cách mạng ở người nông dân trong kháng chiến chống Pháp, đồng thời khẳng định giá trị và vị trí của truyện Làng trong văn học cách mạng.
Nghệ thuật
- Luận điểm rõ ràng, sắp xếp theo diễn biến truyện.
- Dẫn chứng chọn lọc, trích đúng lời văn của Kim Lân, kết hợp so sánh với thơ cùng thời.
- Lời phân tích khách quan đan xen lời đánh giá chủ quan giàu cảm xúc.
Kết luận
Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân, em cần nắm được vấn đề nghị luận (tình yêu làng hòa vào lòng yêu nước của ông Hai), bố cục ba phần và cách người viết dùng dẫn chứng từ truyện để làm sáng tỏ nhận xét. Đây cũng là mẫu tham khảo tốt khi em tự viết bài nghị luận về một truyện ngắn.
Xem thêm: