Sử học là khoa học nghiên cứu quá khứ của loài người: tìm lại những gì đã xảy ra, giải thích vì sao nó xảy ra và rút ra điều có ích cho hôm nay. Ngành sử học vì thế khác với “lịch sử” theo nghĩa những sự việc đã qua. Lịch sử là đối tượng, còn sử học là cách con người tìm hiểu đối tượng ấy bằng tư liệu và phương pháp.
| Nghĩa ngắn | Khoa học nghiên cứu quá khứ của xã hội loài người |
| Gốc từ | Hán Việt 史學: sử (việc chép sử, sách sử) + học (môn học, ngành học) |
| Thuộc | Nhóm khoa học xã hội và nhân văn |
| Người làm nghề | Nhà sử học, sử gia |

Sử học: khoa học về quá khứ con người
Từ điển tiếng Việt định nghĩa sử học là khoa học nghiên cứu lịch sử của xã hội loài người nói chung, hoặc của một quốc gia, một dân tộc nói riêng. Sách Lịch sử 10 (Kết nối tri thức) nói gọn hơn: sử học là khoa học nghiên cứu về quá khứ của loài người.
Phạm vi của “quá khứ” ấy rộng hơn nhiều người nghĩ. Đối tượng nghiên cứu có thể là cả nhân loại, một khu vực, một quốc gia, nhưng cũng có thể chỉ là một làng, một dòng họ, một nghề thủ công hay đời một con người. Nghiên cứu chuyện thi cử thời Nguyễn, lịch sử chiếc áo dài hay quá trình một ngôi chợ mọc lên đều là việc của sử học.
Chữ sử trong 史學 vốn chỉ việc ghi chép và người ghi chép; chữ học chỉ ngành học. Họ hàng gần của từ này là sử gia, sử liệu, sử sách, quốc sử.
Lịch sử, sử học và sử thi khác nhau ra sao?
| Từ | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lịch sử (hiện thực) | Những gì đã thật sự diễn ra, không ai sửa được | Trận Bạch Đằng năm 938 |
| Sử học | Hiểu biết, nghiên cứu của con người về quá khứ ấy | Một công trình khảo cứu về trận Bạch Đằng |
| Sử thi | Thể loại văn học kể chuyện anh hùng của cộng đồng, không phải ngành khoa học | Đăm Săn, Iliad |
Sách giáo khoa chia lịch sử làm hai nghĩa: hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức. Sử học thuộc về nghĩa sau. Giữa hai nghĩa luôn có một khoảng cách, vì không ai dựng lại được quá khứ đầy đủ như nó đã xảy ra. Hai chữ lịch sử được giải nghĩa riêng ở bài lịch sử hiểu theo hai nghĩa.
Học sinh hay lẫn sử học với sử thi chỉ vì chung chữ “sử”. Sử thi là tác phẩm văn chương, có hư cấu, có thần linh; muốn rõ đặc điểm của nó có thể xem bài thể loại sử thi trong Ngữ văn 10.
Nhà sử học làm việc với những gì?
Không có máy quay nào ghi lại quá khứ cho đủ, nên nhà sử học làm việc như người ghép mảnh. Mảnh ghép gọi là sử liệu. Sách Lịch sử 10 phân loại sử liệu theo hình thức thành năm nhóm:
- Hiện vật: trống đồng, đồ gốm, dấu tích thành lũy.
- Chữ viết: bia đá, sắc phong, gia phả, sách sử như Đại Việt sử ký toàn thư.
- Truyền miệng: truyền thuyết, ca dao, lời kể của nhân chứng.
- Hình ảnh: tranh vẽ, ảnh chụp.
- Đa phương tiện: phim tư liệu, bản ghi âm, video.
Theo tính chất, sử liệu lại có hai loại. Sử liệu gốc (sơ cấp) ra đời cùng lúc hoặc gần nhất với sự kiện, như một tờ châu bản triều Nguyễn. Sử liệu phái sinh (thứ cấp) là những gì viết lại sau đó, như một cuốn sách nghiên cứu. Truyền thuyết cho biết người xưa nghĩ gì nhưng hiếm khi cho ngày tháng chính xác; một tờ văn bản cũ lại mang sẵn cái nhìn của người viết ra nó.
Vì thế việc chính của nhà sử học không chỉ là tìm tư liệu mà là thẩm định nó: ai viết, viết khi nào, để làm gì, có khớp với nguồn khác hay không. Hai tấm bia ghi về cùng một sự kiện có thể kể theo hai cách trái ngược, và người nghiên cứu phải giải thích được vì sao.
Vì sao con người cần sử học?
Sách giáo khoa nêu sử học có hai chức năng. Chức năng khoa học là khôi phục các sự kiện đã diễn ra và tìm ra bản chất, quy luật của chúng. Chức năng xã hội là giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, và rút ra bài học cho cuộc sống hiện tại.
Đi kèm là ba nhiệm vụ: nhận thức (cung cấp hiểu biết đúng về quá khứ), giáo dục (truyền lại những giá trị tốt đẹp cho lớp sau) và dự báo (từ kinh nghiệm cũ gợi ý hướng đi sắp tới). Nói theo cách đời thường: không biết mình từ đâu đến thì khó đoán mình sẽ đi về đâu.
Sử học còn có một công dụng ít được nhắc: nó dạy cách nghi ngờ đúng mức. Một người quen hỏi “nguồn ở đâu, ai nói, nói khi nào” sẽ khó bị dắt mũi bởi tin đồn trên mạng hơn người chỉ đọc tiêu đề.
Lê Văn Hưu và bộ quốc sử đầu tiên
Ở nước ta, người hay được nhắc đầu tiên khi nói về nghề chép sử là Lê Văn Hưu, sống dưới triều Trần. Năm 1272, ông hoàn thành bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển, ghi chép từ thời Triệu Đà đến hết nhà Lý, được xem là bộ quốc sử đầu tiên của Đại Việt. Bộ sách nay đã thất truyền, nhưng nội dung và những lời bình của ông được các sử gia đời sau dùng lại, rõ nhất trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ XV.
Từ đó đến nay, bộ môn sử học Việt Nam đã đi một chặng dài, từ các sử thần trong Quốc sử viện đến các nhà nghiên cứu dùng khảo cổ học, nhân học, văn bản học. Người viết văn cũng mượn sử học rất nhiều; muốn kể một chuyện có thật về nhân vật lịch sử cho đúng, có thể tham khảo bài văn kể chuyện có thật về nhân vật lịch sử.
Học ngành sử, đọc sách sử: mấy điều nên biết
Ngành sử học học gì?
Sinh viên ngành này học lịch sử Việt Nam và thế giới qua các thời kỳ, phương pháp nghiên cứu, cách đọc và thẩm định sử liệu, thường kèm khảo cổ học, Hán Nôm, lưu trữ. Ra trường có thể làm giảng dạy, nghiên cứu, bảo tàng, lưu trữ, biên tập sách báo hoặc du lịch văn hóa.
Sử học tiếng Anh là gì?
Thường dịch là history khi nói về ngành học. Từ historiography hẹp hơn: chỉ việc nghiên cứu cách lịch sử được viết ra, hay toàn bộ các công trình sử về một đề tài.
Nhà sử học và sử gia có khác nhau không?
Hai từ gần như cùng nghĩa: người nghiên cứu, biên soạn lịch sử. “Sử gia” nghe trang trọng, hay dùng cho người đời trước như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên; “nhà sử học” thông dụng hơn cho người làm nghề hiện nay.
Môn Lịch sử ở trường có phải là sử học không?
Môn Lịch sử là phần kiến thức sử học được chọn lọc để dạy học sinh. Học sinh học kết quả của sử học; nhà sử học thì làm ra những kết quả ấy từ sử liệu.