Soạn bài Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần khẳng định chân lí độc lập của đất nước hướng dẫn em làm phần khởi động, yêu cầu theo dõi trong lúc đọc và năm câu hỏi sau khi đọc ở trang 96 – 98, Bài 9 Khát vọng độc lập và tự do (Văn bản nghị luận), sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo tập hai. Đây là bài bình giảng của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn về bài thơ chữ Hán Nam quốc sơn hà – tác phẩm em đã làm quen ở cấp trung học cơ sở. Trước khi soạn, em nên đọc lại bài thơ (phiên âm, dịch nghĩa) trong bài Nam quốc sơn hà để đối chiếu từng chữ được phân tích.
Tìm hiểu chung về văn bản Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần
Nắm vài thông tin về người viết, nguồn gốc bài viết và cách chia đoạn sẽ giúp em trả lời các câu hỏi nhanh và đúng hơn.

Tác giả Nguyễn Hữu Sơn
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn quê Lục Nam (Bắc Giang), sinh năm 1959. Ra trường năm 1982 với chuyên ngành văn học Việt Nam thời cổ và cận đại, ông còn theo học thêm Hán Nôm ở cuối thập niên 1980. Ông nhận học vị tiến sĩ năm 1998 với công trình về Thiền uyển tập anh và được phong Phó Giáo sư năm 2004. Văn học trung đại là lĩnh vực ông dành nhiều công sức nghiên cứu nhất, nên cách ông đọc một bài thơ chữ Hán luôn chú ý tới nghĩa gốc của từng chữ.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: bài viết in trong sách Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở (NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr. 142 – 146). Đoạn trong SGK có lược bớt một chỗ, đánh dấu bằng […].
- Thể loại: nghị luận văn học, cụ thể là bình giảng một bài thơ.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Bố cục: 5 phần, bám theo bốn câu thơ và phần đánh giá nghệ thuật. Phần 1 (hai đoạn đầu, đến hết ý về kế sách ngoại giao): bàn về câu thứ nhất. Phần 2 (đoạn ba): câu thứ hai. Phần 3 (đoạn bốn): câu thứ ba. Phần 4 (đoạn năm): câu kết. Phần 5 (đoạn cuối): thể thơ, âm hưởng và kết luận về giá trị bài thơ.
Bài thơ được bàn luận
Bài thơ chữ Hán gồm bốn câu bảy chữ, tương truyền đã vang lên trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Theo truyền thuyết, bài thơ được nghe thấy giữa đêm từ một ngôi đền thờ thần bên sông nên người đời gọi là “bài thơ Thần”. Tác giả thật của bài thơ đến nay chưa xác định chắc chắn; nhiều tài liệu gắn bài thơ với tên tuổi Lý Thường Kiệt. Cách hiểu từng câu em xem thêm ở bài Soạn bài Nam quốc sơn hà.
Soạn bài Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần: Trước khi đọc (trang 96)
Câu hỏi khởi động mời em nhớ lại ấn tượng riêng của mình về bài thơ trước khi đọc bài nghị luận.
Câu 1: Suy nghĩ, cảm nhận về bài thơ Nam quốc sơn hà (trang 96)
Ghi lại những suy nghĩ, cảm nhận của bạn về bài thơ Nam quốc sơn hà.
Trả lời:
Gợi ý: Mỗi lần đọc bài thơ, em có cảm giác như nghe một lời tuyên bố được nói bằng giọng sang sảng, không chút do dự. Chỉ với hai mươi tám chữ, người xưa vừa nói rõ đất này thuộc về ai, vừa cho kẻ thù biết trước số phận nếu dám kéo quân sang. Em thấy tự hào vì từ gần một nghìn năm trước, ông cha ta đã có ý thức rõ ràng về lãnh thổ và về vị thế ngang hàng với nước lớn phương Bắc. Bài thơ ngắn nhưng vững chãi như cột mốc chủ quyền được dựng bằng chữ.
Soạn bài Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần: Đọc văn bản
Trong khi đọc, SGK đặt một yêu cầu theo dõi bên lề ở phần đầu văn bản.
Câu 1: Câu văn liên hệ bối cảnh văn hóa, xã hội
Xác định những câu văn cho thấy tác giả đã liên hệ với bối cảnh văn hóa, xã hội để hiểu câu thơ sâu sắc hơn.
Trả lời:
Đó là các câu ở phần đầu văn bản, khi người viết giảng chữ “đế” trong câu thơ thứ nhất:
- Câu giải thích rằng trong chữ Hán, “đế” và “vương” đều được dịch là vua, đều đại diện cho đất nước, nhưng “đế” luôn ở bậc cao hơn.
- Câu nói về thứ bậc trong chế độ phong kiến phương Bắc: chỉ thiên tử của triều chính thống mới nắm quyền tối cao, vua các nước nhỏ chịu thần phục thì chỉ được phong vương.
- Câu nêu thực tế lịch sử thời Bắc thuộc: ngay các thủ lĩnh khởi nghĩa cũng chỉ xưng hoặc được gọi là vương (Trưng Nữ Vương, Triệu Việt Vương, Bố Cái Đại Vương, Tiền Ngô Vương).
- Câu lưu ý rằng các triều đại về sau vẫn xưng đế trong nước, nhưng khi giao thiệp với nước lớn lại xưng vương – một cách ứng xử ngoại giao khéo léo, mềm mỏng.
Nhờ đặt chữ “đế” vào bối cảnh lễ nghi, chính trị ấy, người đọc thấy rõ việc gọi vua nước Nam là “đế” là một tuyên bố ngang hàng đầy bản lĩnh.
Soạn bài Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần: Sau khi đọc (trang 98)
Năm câu hỏi cuối bài tập trung vào hệ thống luận điểm, mục đích viết và cách lập luận của văn bản.
Câu 1: Hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng (trang 98)
Xác định hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng của văn bản trên dựa vào bảng sau (làm vào vở): Luận điểm 1, 2,… – Lí lẽ và bằng chứng.
Trả lời:
| Luận điểm | Lí lẽ và bằng chứng |
|---|---|
| Luận điểm 1: Ngay câu đầu, bài thơ đã khẳng định chân lí nước Nam độc lập, có chủ quyền. | Phân biệt “đế” với “vương” trong chữ Hán và trong trật tự phong kiến Trung Hoa; dẫn các danh xưng thời Bắc thuộc (Trưng Nữ Vương, Triệu Việt Vương, Bố Cái Đại Vương, Tiền Ngô Vương); chỉ ra rằng chữ “đế” cho thấy nước Nam có hoàng đế riêng, ngang hàng với phương Bắc; nhắc kế sách trong nội xưng đế, ngoại giao xưng vương của các triều đại sau. |
| Luận điểm 2: Câu hai nối tiếp ý câu một: ranh giới lãnh thổ được phân định là lẽ chính đáng. | Mỗi dân tộc có cội nguồn riêng; cách nói “định phận tại thiên thư” (sách trời đã định) là một biểu tượng, không có thật nhưng nói lên quyền tồn tại chính đáng của từng dân tộc; câu hai hô ứng với câu một. |
| Luận điểm 3: Câu ba vạch mặt kẻ dám xâm lấn và đánh thức lòng yêu nước. | Phân tích cụm “nghịch lỗ lai xâm phạm” (kẻ nghịch dám đến xâm phạm) và ngữ khí hỏi vặn của hai chữ “Như hà”; từ đó thấy sự phi nghĩa của giặc, lẽ phải đứng về phía triều đình và nhân dân nước Nam và trách nhiệm của mỗi người dân. |
| Luận điểm 4: Câu kết là lời cảnh báo, hiệu triệu và tiên tri: ta thắng, giặc thua. | Cách gọi giặc là “nhữ đẳng” (chúng bay) thể hiện sự khinh bỉ, phân rõ hai chiến tuyến; cụm “thủ bại hư” (chuốc lấy thất bại tan tành) cho thấy kết cục tất yếu của kẻ xâm lược. |
| Luận điểm 5: Nghệ thuật và giá trị của bài thơ. | Thể tứ tuyệt Đường luật, niêm luật chặt; vần bằng ở ba chữ cuối câu 1, 2, 4 (“cư”, “thư”, “hư”) tạo âm hưởng hùng tráng; hai câu đầu khẳng định, hai câu sau cảnh cáo; vì thế bài thơ mang tầm vóc lời tuyên ngôn độc lập sớm nhất của nước ta. |
Câu 2: Mục đích viết và quan điểm của tác giả (trang 98)
Văn bản trên được viết ra nhằm mục đích gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào khi bàn về bài thơ Nam quốc sơn hà?
Trả lời:
- Mục đích: giúp người đọc hiểu sâu từng chữ, từng câu của bài thơ, qua đó chứng minh Nam quốc sơn hà đúng là “bài thơ Thần” nói lên chân lí độc lập của đất nước, xứng với vị trí lời tuyên ngôn về nền độc lập.
- Quan điểm: người viết đứng ở vị trí trân trọng, tự hào và hoàn toàn đồng tình với tư tưởng của bài thơ. Ông xem chủ quyền của nước Nam là lẽ phải hiển nhiên, coi việc xâm lược là phi nghĩa và tin chắc kẻ xâm lược sẽ thất bại. Thái độ ấy lộ rõ qua những từ ngữ đánh giá mạnh như “chân lí”, “chính nghĩa”, “tất yếu”, “đanh thép”.
Câu 3: Trình tự sắp xếp luận điểm và tác dụng (trang 98)
Các luận điểm trong văn bản được sắp xếp theo trình tự nào? Cách sắp xếp ấy có tác dụng gì?
Trả lời:
- Trình tự: người viết đi lần lượt từ câu thơ thứ nhất đến câu thứ tư (đề – thực – luận – kết), mỗi câu là một luận điểm; sau cùng mới khái quát về thể thơ, âm hưởng và giá trị của cả bài. Đây là cách triển khai từ bộ phận đến tổng thể.
- Tác dụng: bài viết mạch lạc, dễ theo dõi vì đi đúng mạch của bài thơ; người đọc vừa hiểu kĩ từng câu, vừa thấy được sự liên kết giữa các câu (hai câu đầu khẳng định, hai câu sau cảnh báo); phần đánh giá cuối bài trở nên có sức nặng vì đã được chuẩn bị bằng bốn luận điểm trước đó.
Câu 4: Mục đích của việc phân biệt “đế” và “vương” (trang 98)
Ở đoạn văn đầu tiên, tác giả đề cập đến sự phân biệt “đế” và “vương” trong xã hội phong kiến Trung Hoa nhằm mục đích gì?
Trả lời:
Người viết phân biệt hai chữ này để làm nổi bật giá trị của chữ “đế” trong câu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Trong quan niệm phong kiến phương Bắc, chỉ thiên tử của “thiên triều” mới được xưng đế, còn vua các nước xung quanh chỉ là vương, tức là bề tôi. Bài thơ gọi vua nước Nam là “Nam đế” có nghĩa là đặt nước Nam ngang hàng với phương Bắc, không chịu phận chư hầu. Nhờ sự đối chiếu ấy, người đọc hiểu rằng câu thơ không chỉ nói đất nào có chủ ấy mà còn khẳng định quyền tự chủ trọn vẹn và lòng tự tôn của cả dân tộc.
Câu 5: Bài thơ có xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên? (trang 98)
Tác giả cho rằng bài thơ Nam quốc sơn hà “xứng đáng được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc”. Bạn có đồng ý với ý kiến này hay không? Vì sao?
Trả lời:
Em tán thành nhận định này, bởi:
- Về nội dung: một văn bản tuyên ngôn về độc lập phải nói rõ đất nước có chủ quyền, có lãnh thổ riêng và sẵn sàng bảo vệ chủ quyền ấy. Bài thơ có đủ các ý đó: vua Nam ngang hàng hoàng đế phương Bắc, bờ cõi đã được định rõ, kẻ xâm phạm là phi nghĩa và chắc chắn thất bại.
- Về thời điểm: bài thơ gắn với cuộc kháng chiến chống Tống, ra đời trước Bình Ngô đại cáo (thế kỉ XV) hàng trăm năm và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Trong những văn bản cùng tinh thần, đây là tiếng nói sớm nhất còn lưu lại.
- Về tác động: bài thơ được đọc lên giữa lúc chiến sự căng thẳng, vừa làm tướng sĩ phấn chấn, vừa khiến quân giặc nao núng – tức là nó có sức mạnh của một lời tuyên bố chính thức trước kẻ thù.
Vì vậy, xem bài thơ như lời tuyên ngôn độc lập mở đầu của nước ta là hoàn toàn có cơ sở.
Nội dung và nghệ thuật văn bản Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần
Phần tổng kết dưới đây giúp em ghi nhớ nhanh sau khi soạn.
Nội dung
Bằng cách giảng giải lần lượt bốn câu thơ, Nguyễn Hữu Sơn làm sáng tỏ tư tưởng cốt lõi của Nam quốc sơn hà: nước Nam có chủ quyền, có hoàng đế riêng, có bờ cõi được định rõ; mọi hành động xâm lược đều phi nghĩa và sẽ chuốc lấy thất bại. Từ đó, bài viết khẳng định bài thơ giữ vị trí lời tuyên ngôn mở đầu về nền độc lập trong lịch sử dân tộc.
Nghệ thuật
- Luận điểm rõ ràng, sắp xếp theo thứ tự các câu thơ rồi mới khái quát.
- Giải nghĩa chữ Hán cẩn thận, đặt từ ngữ vào bối cảnh lịch sử, văn hóa để làm sâu thêm ý thơ.
- Lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng lịch sử cụ thể; giọng văn khách quan nhưng thấm niềm tự hào dân tộc.
Kết luận
Khi soạn bài Nam quốc sơn hà – bài thơ Thần khẳng định chân lí độc lập của đất nước, em cần nhớ: văn bản bình giảng bốn câu thơ theo trình tự, mỗi câu một luận điểm; điểm sáng nhất là phần giảng chữ “đế”; kết luận của bài viết là bài thơ mang tầm vóc lời tuyên ngôn độc lập sớm nhất của nước ta. Cách viết này là mẫu tham khảo tốt khi em làm bài nghị luận phân tích một bài thơ ngắn.
Xem thêm: