Hát nói là một lối hát trong nghệ thuật ca trù, đồng thời là thể thơ dùng làm lời cho lối hát ấy. Bài hát nói chuẩn có 11 câu chia ba khổ, câu dài ngắn không đều, chen lẫn chữ Hán với chữ Nôm, kết bằng một câu sáu chữ. Trong giờ văn, học sinh biết đến thể này qua Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.
| Nghĩa ngắn | Thể thơ – lối hát của ca trù, câu tự do, khuôn 11 câu ba khổ |
| Thuộc | Thể thơ dân tộc thời trung đại, gắn với âm nhạc ca trù |
| Dấu hiệu nhận biết | Khổ 4 – 4 – 3 câu, câu cuối sáu chữ, có thể có mưỡu lục bát đứng trước |
| Tác giả tiêu biểu | Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê |
| Học ở | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (Bài ca ngất ngưởng) |

Hát nói nằm ở đâu trong ca trù?
Ca trù có nhiều lối hát, mỗi lối một khuôn nhạc, một kiểu lời. Trong số đó, hát nói là lối thông dụng nhất và cũng giàu văn chương nhất, đến mức nhiều người lầm tưởng ca trù chỉ là hát nói. Thực ra quan hệ giữa hai khái niệm giống như giữa cả một chiếu hát và một bài trên chiếu hát ấy. Phần giới thiệu chung về người hát, tiếng phách, tiếng trống chầu đã có ở bài ca trù là gì và những tên gọi khác.
Điều làm hát nói được giới văn học chú ý là lời của nó. Các nhà nho thế kỉ XIX tìm thấy ở đây một khuôn thơ rộng rãi hơn hẳn thơ Đường luật: câu không bị ép số chữ, vần không quá gò, ý tứ được phép phóng túng. Có ý kiến cho rằng hát nói chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão – Trang và là chỗ để các nhà nho “xả” bớt khuôn phép; cũng có ý kiến xem nó là một biến thể đi ra từ thể song thất lục bát. Dù gốc gác thế nào, những bài hát nói còn lưu đến nay phần lớn có từ đầu thế kỉ XIX trở đi, gắn với tên Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, về sau có Dương Khuê.
Khuôn một bài hát nói chuẩn
Bài hát nói “đủ khổ” gồm 11 câu, chia làm ba khổ:
| Phần | Số câu | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mưỡu (không bắt buộc) | Thường 2 hoặc 4 câu lục bát | Đặt trước bài như lời rao, dẫn vào ý chính |
| Khổ đầu | 4 câu | Mở ý, giới thiệu đề tài |
| Khổ giữa | 4 câu | Phát triển ý, hay chen câu thơ chữ Hán hoặc câu đối |
| Khổ xếp (khổ cuối) | 3 câu | Chốt ý; câu cuối cùng chỉ có sáu chữ |
Số chữ mỗi câu không cố định, thường dao động quanh bảy, tám chữ, có câu dài hơn hẳn. Riêng câu kết gần như luôn là sáu chữ, vì nó phải khớp với nhịp phách khi đào nương hát dứt bài. Về chất liệu, hát nói là một thể “hỗn hợp”: trong cùng bài có thể gặp câu lục bát, câu song thất, câu bốn chữ kiểu phú, câu thơ chữ Hán nguyên văn, có khi cả thành ngữ. Chính sự pha trộn đó tạo ra giọng điệu vừa sang vừa tự nhiên, nửa hát nửa nói như tên gọi của nó.
Nhớ nhanh: 4 – 4 – 3, câu chót sáu chữ. Gặp một bài thơ câu dài ngắn lởm chởm, nhiều chữ Hán, khép lại bằng câu sáu chữ thì nên nghĩ ngay đến hát nói.
Đủ khổ, thiếu khổ và dôi khổ
Khuôn 11 câu là chuẩn, nhưng người làm hát nói không phải lúc nào cũng giữ đúng. Từ đó có ba cách gọi:
- Đủ khổ: đúng ba khổ, 11 câu.
- Thiếu khổ: bỏ bớt khổ giữa, bài chỉ còn khổ đầu và khổ xếp.
- Dôi khổ: thêm một hay nhiều khổ giữa, bài dài hơn 11 câu.
Dôi khổ thường xuất hiện khi tác giả có quá nhiều điều muốn nói. Bài hát nói nổi tiếng nhất trong sách giáo khoa cũng thuộc loại này.
Soi thể hát nói qua Bài ca ngất ngưởng
Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ dài 19 câu, tức đã vượt khuôn 11 câu: đây là một bài dôi khổ, và bài không có mưỡu. Đọc theo đặc trưng thể loại, có thể thấy mấy điểm:
- Câu mở bằng chữ Hán. Bài vào đề bằng một câu chữ Hán nói rằng mọi việc trong trời đất đều là phận sự của mình, rồi lập tức chuyển sang lời Nôm kể chuyện mình. Lối đan Hán – Nôm ấy đúng tinh thần hát nói.
- Câu dài ngắn so le. Có câu chỉ vài chữ như tiếng reo, có câu kéo dài kể một loạt chức tước. Nhịp nhanh chậm theo cảm xúc, không theo luật.
- Điệp từ làm khung. Hai chữ “ngất ngưởng” trở đi trở lại bốn lần ở cuối các đoạn, như điểm nhấn của cả bài. Nghĩa của từ này được bàn riêng trong bài ngất ngưởng là gì.
- Giọng phóng túng. Tác giả tự xưng “ông”, kể chuyện đeo đạc ngựa cho bò vàng, dắt theo “một đôi dì” lên chùa. Một giọng tự trào như vậy khó tìm thấy trong thơ Đường luật, nhưng lại rất hợp với hát nói.
Câu kết của bài có hai dạng chữ, tùy bản:
Đời ai ngất ngưởng như ông!
Bản trên là câu sáu chữ, đúng lệ câu kết của hát nói; một số bản khác (như bản trên Wikisource) chép là “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”, thành bảy chữ. Khi trích trong bài làm, nên theo đúng văn bản của sách đang học. Phần trả lời câu hỏi SGK có ở bài soạn Bài ca ngất ngưởng, còn các bài hát nói khác của tác giả được gom trong tuyển tập thơ Nguyễn Công Trứ.
Bài tập về thể hát nói
Câu 1: Bài hát nói đủ khổ có bao nhiêu câu, chia thế nào?
Đáp án: 11 câu, gồm khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu và khổ xếp 3 câu. Câu cuối cùng thường có sáu chữ.
Câu 2: Bài ca ngất ngưởng có 19 câu. Bài thuộc loại đủ khổ, thiếu khổ hay dôi khổ?
Đáp án: Dôi khổ, vì số câu nhiều hơn khuôn 11 câu; tác giả đã thêm khổ giữa để kể hết các chặng đời mình.
Câu 3: Mưỡu trong hát nói là gì, có bắt buộc không?
Đáp án: Mưỡu là mấy câu thơ lục bát đặt trước bài hát nói để dẫn vào ý chính. Mưỡu không bắt buộc; Bài ca ngất ngưởng chẳng hạn không có mưỡu.
Câu 4: Nêu hai điểm khiến hát nói phóng khoáng hơn thơ Đường luật.
Đáp án: Thứ nhất, số chữ trong câu không cố định, số khổ có thể thêm bớt. Thứ hai, bài được tự do pha trộn nhiều chất liệu: câu chữ Hán, câu lục bát, câu song thất, thành ngữ. Nhờ vậy người viết bày tỏ cá tính dễ hơn, như cái ngông của Nguyễn Công Trứ.
Một mẹo khi làm bài đọc hiểu: thấy đề ghi “thể hát nói” thì đừng xác định là “thơ tự do”. Hát nói có khuôn riêng hẳn hoi, chỉ là khuôn ấy rộng hơn các thể thơ cách luật khác.
Hát nói: khổ thơ, câu kết và người viết
Hát nói là thể thơ gì?
Đó là thể thơ dùng làm lời cho lối hát nói của ca trù, khuôn chuẩn 11 câu chia ba khổ 4 – 4 – 3, câu cuối sáu chữ, câu dài ngắn tự do và hay chen chữ Hán.
Hát nói khác ca trù như thế nào?
Ca trù là cả loại hình nghệ thuật, có người hát, người đàn đáy, người cầm chầu và nhiều lối hát khác nhau. Hát nói chỉ là một lối hát trong ca trù, cũng là lối có lời thơ đặc sắc nhất.
Ai là người viết hát nói nổi tiếng nhất?
Nguyễn Công Trứ thường được nhắc đầu tiên, với Bài ca ngất ngưởng và nhiều bài nói chí làm trai. Bên cạnh ông có Cao Bá Quát, Dương Khuê cùng nhiều nhà nho thế kỉ XIX.
Hát nói có phải thơ tự do không?
Không. Hát nói phóng khoáng hơn thơ Đường luật nhưng vẫn có khuôn khổ đủ, câu kết sáu chữ và cách chia khổ riêng, nên được xếp vào thể thơ có quy tắc của văn học trung đại.